Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 16-8-2024

V/v “Tranh chấp tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hoài Trí.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tùng;

Bà Trần Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kim Duyên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 và 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 12/2024/TLPT-HNGĐ ngày 09/4/2024 về việc “Tranh chấp tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn” do Bản án hôn nhân và gia đình số 36/2023/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Tấn L, sinh năm 1954; nơi thường trú: tổ F, ấp M, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: khu phố B, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp của ông Huỳnh Tấn L: Ông Chúc Kim D, sinh năm 1988; nơi thường trú: ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương (theo Văn bản ủy quyền ngày 03/01/2023), có mặt.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1957; nơi thường trú: tổ F, ấp M, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

    Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị X: Ông Phạm Tiến Thiên T, sinh năm 1983; nơi thường trú: khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: số E Đại Lộ B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Văn bản ủy quyền ngày 21/10/2023), có mặt.

  3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Ông Huỳnh Nhật N, sinh năm 1980; nơi thường trú: tổ F, ấp M, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

    2. Bà Huỳnh Thị Như T1, sinh năm 1984; nơi thường trú: số A, L, phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

      Người đại diện hợp pháp của ông Huỳnh Nhật N và bà Huỳnh Thị Như T1: Ông Phạm Tiến Thiên T, sinh năm 1983; nơi thường trú: khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: số E, Đại Lộ B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Văn bản ủy quyền ngày 21/10/2023), có mặt.

    3. Bà Nguyễn Thị Ợ, sinh năm 1934; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương (đã chết).

      Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị Ợ:

      • - Ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1960;

      • - Bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1966;

      • - Ông Huỳnh Văn N1, sinh năm 1973;

      • - Ông Huỳnh Văn N2, sinh năm 1975;

      Cùng thường trú: ấp Đ, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

    4. Ông Đặng Đôn V, sinh năm 1970, bà Trần Thị T2, sinh năm 1971; cùng nơi thường trú: ấp M, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

    5. Bà Đặng Thị B và ông Nguyễn Văn T3; cùng nơi thường trú: ấp Đ, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

    6. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1977; nơi thường trú: ấp M, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

    7. Ông Hồ Sỹ H, sinh năm 1958; nơi thường trú: ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

    8. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1970; nơi thường trú: ấp M, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

    9. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1984; nơi thường trú: tổ F, ấp M, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, văng mặt.

    10. Công ty Cổ phần C; địa chỉ: ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương.

      Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thành N3, sinh năm 1983, chức vụ: Cán bộ Phòng Thanh tra - Bảo vệ - Quân sự Công ty Cổ phần C; ông Lương Hữu T6, sinh năm 1986, chức vụ: Cán bộ Phòng Kỹ thuật Công ty Cổ phần C; ông Võ Thành T7, sinh năm 1983, chức vụ: Cán bộ Nông trường cao su Hội Nghĩa Công ty Cổ phần C (theo Văn bản ủy quyền ngày 09/7/2023), có đơn đề nghị xét xử văng mặt.

    11. Ngân hàng N4 - Chi nhánh thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: khu phố C, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

      Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Ngọc L1, chức vụ: Phó giám đốc phụ trách điều hành (theo Văn bản ủy quyền ngày 06/3/2023), có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    12. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương.

      Người đại diện Ủy ban nhân dân huyện B: Ông Nguyễn Văn T8, chức vụ: Phó Chủ tịch, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  4. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị X, ông Huỳnh Nhật N, bà Huỳnh Thị Như T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông Huỳnh Tấn L và người đại diện hợp pháp của ông L trình bày:

Năm 1978, ông L chung sống với bà X sinh được 02 người con gồm: ông Huỳnh Nhật N, sinh năm 1980 và bà Huỳnh Thị Như T1, sinh năm 1984. Năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, ngày 30/10/2019 được Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 101/2019/QÐST-HNGĐ, sau khi có quyết định nêu trên ông L và bà X không tự phân chia được tài sản chung nên hiện nay ông L khởi kiện yêu cầu chia các tài sản như sau:

  1. Ông L yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa ông L và bà X đối với quyền sử dụng đất diện tích đất 53.150,2m² (trong đó phần diện tích đất 3.286,6m² thuộc thửa đất số 73, diện tích 1.480,2m² thuộc thửa đất số 74, diện tích 27.058,1m² thuộc thửa đất số 75, diện tích 20.164,1m² thửa đất số 76, diện tích 1.162,2m² thuộc một phần thửa đất số 89) tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương; các thửa đất số 73, 74, 75, 76 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L và bà X ngày 17/9/2007, số vào sổ H 00711, đối với diện tích đất 1.162,2m² thuộc một phần thửa đất số 89 chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Công ty Cổ phần C quản lý, ông L và bà X là người trực tiếp sử dụng và trồng cây trên đất; các tài sản gắn liền với các thửa đất gồm có:

    01 nhà nuôi yến (nhà yến 1) diện tích 222,5m² (trong đó 9,3m² thuộc thửa đất số 73 và 213,2m² thuộc thửa đất số 75) ông L và bà X làm năm 2017, kết cấu mái tôn, tường gạch xây tô, nền xi măng; 01 bồn nước 2000 lít, diện tích 2,5m² thuộc thửa đất số 75, kết cấu chân trụ bê tông do ông L và bà X xây dựng năm 2017; 01 giếng khoan, kèm theo mô tơ trên thửa đất số 75 được ông L và bà X làm năm 2017; 01 mái che diện tích 67,2m² (trong đó diện tích 57,2m² thuộc thửa đất số 71, diện tích 10m² thuộc thửa đất số 75), kết cấu cột bê tông, kèo sắt, mái tôn được ông L và bà X làm năm 2010; 01 nhà vệ sinh diện tích 2,2m² kết cấu tường gạch xây không tô, mái tôn, nền xi măng được ông L và bà X làm năm 2010; 01 hồ xử lý nước thải diện tích 0,8m² thuộc thửa đất số 75, được ông L và bà X làm năm 2010; 1.300 cây cao su được ông L và bà X trồng năm 2006; 1.624 cây cao su được ông L và bà X trồng năm 2000; 50 cây sầu riêng được ông L và bà X trồng năm 2000; 04 cây sầu riêng được ông L và bà X trồng năm 2018; 09 cây chôm chôm được bà X và ông L trồng năm 2018; 18 cây măng cụt được bà X và ông L trồng năm 2000; 05 cây dâu da được ông L, bà X trồng năm 2000; 15 cây dừa được ông L, bà X trồng năm 2000; 65 cây dừa nhỏ được ông L và bà X trồng năm 2019; 30 cây tre tàu được ông L, bà X trồng năm 2016; 41 cây chuối được ông L, bà X trồng năm 2017; 50 cây huỳnh đường được ông L, bà X trồng năm 2000;

    - Ông L yêu cầu được chia tài sản này thành 02 phần, ông L hưởng một phần, bà X hưởng một phần, cụ thể:

    • + Ông L xin hưởng diện tích đất trồng cây lâu năm 24.640,6m² (trong đó diện tích 3.314,3m² thuộc một phần thửa đất số 75, diện tích đất 20.291,4m² thuộc thửa đất số 76 và diện tích đất 1.162,2m² thuộc một phần thửa đất số 89), các tài sản trên đất gồm: 1.660 cây cao su (trong đó 1.300 cây trồng năm 2006 và 360 cây trồng năm 2000), 48 cây huỳnh đường trồng năm 2000.

    • + Yêu cầu chia cho bà X hưởng diện tích đất trồng cây lâu năm 28.509,6m² (trong đó diện tích 3.285,6m² thuộc thửa đất số 73, diện tích 1.480,2m² thuộc thửa đất số 74, diện tích 23.743,8m² thuộc một phần thửa đất số 75), các tài sản trên đất gồm:

      01 nhà nuôi yến (nhà yến 1) diện tích 222,5 m² (trong đó diện tích 9,3m² thuộc thửa đất số 73 và diện tích 213,2m² thuộc thửa đất số 75) ông L và bà X làm 2017, kết cấu mái tôn, tường gạch xây tô, nền xi măng; 01 bồn nước 2000 lít, diện tích 2,5m² thuộc thửa đất số 75, kết cấu chân trụ bê tông do ông L và bà X xây dựng năm 2017; 01 giếng khoan, kèm theo mô tơ trên thửa đất số 75 được ông L và bà X làm năm 2017; 01 mái che diện tích 67,2m² (trong đó diện tích 57,2m² thuộc thửa đất số 71, diện tích 10m² thuộc thửa đất số 75), kết cấu cột bê tông, kèo sắt, mái tôn được ông L và bà X làm năm 2010; 01 nhà vệ sinh diện tích 2,2m² kết cấu tường gạch xây không tô, mái tôn, nền xi măng được ông L và bà X làm năm 2010; 01 hồ xử lý nước thải diện tích 0,8m² thuộc thửa đất số 75, được ông L và bà X làm năm 2010; 1.264 cây cao su ông L và bà X trồng năm 2000; 50 cây sầu riêng ông L và bà X trồng năm 2000; 04 cây sầu riêng được ông L và bà X trồng năm 2018; 09 cây chôm chôm được bà X và ông L trồng năm 2018; 18 cây măng cụt được bà X và ông L trồng năm 2000; 05 cây dâu da được ông L, bà X trồng năm 2000; 15 cây dừa nhỏ được ông L và bà X trồng năm 2000; 65 cây dừa được ông L, bà X trồng năm 2019; 30 cây tre tàu được ông L, bà X trồng năm 2016; 41 cây chuối được ông L, bà X trồng năm 2017; 02 cây huỳnh đường được ông L, bà X trồng năm 2000.

    Đối với quyền sử dụng đất và các tài sản cây trồng được ông L và bà X tạo lập trên các thửa đất số 71, 72 tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông L đề lại cho bà X tiếp tục quản lý, sử dụng, ông L không tranh chấp các tài sản thuộc thửa đất số 71, 72 tờ bản đồ số 52.

  2. Yêu cầu chia tài sản chung của hộ gia đình ông Huỳnh Tấn L, diện tích đất 3.149,1m² (trong đó 400m² đất thổ cư, còn lại diện tích đất vườn 2.749,1m²) bao gồm (diện tích 2.814,5m² thuộc thửa đất số 184, diện tích 208,4m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa đất số 185, diện tích 102,9m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa đất số 183, diện tích 23,3m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa đất số 495) tờ bản đồ số 49, tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp hộ ông Huỳnh Tấn L ngày 04/7/2000, số vào sổ 01273 QSDĐ/TU. Hộ ông Huỳnh Tấn L gồm có: ông L, bà X và các con: ông N và bà T1. Ông L yêu cầu chia quyền sử dụng đất thành 04 phần bằng nhau, mỗi người được nhận diện tích đất 787,2m² (trong đó 100m² đất thổ cư và 687,2m² diện tích đất vườn), ông L xin hưởng bằng giá trị và giao quyền sử dụng đất cho bà X, ông N, bà T1 trực tiếp quản lý, sử dụng.

    Đối với các tài sản trên đất ông L không nhận và đề nghị giao lại cho bà X, ông N, bà T1 tiếp tục quản lý sử dụng, bao gồm:

    01 nhà cấp 4 diện tích 211,7m² được ông L và bà X xây dựng năm 1992, kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch hoa, mái ngói; 01 sân lát gạch bông diện tích 129,3m² được ông L và bà X xây dựng năm 1992; 01 bàn thờ diện tích 0,25m²; 01 bồn nước 1000 lít (Inox) chân trụ bê tông do ông L và bà X xây dựng năm 2012; 01 giếng khoan kèm mô tơ bơm nước được ông L và bà X làm năm 2012; 01 nhà nuôi yến diện tích 100m² kết cấu tường gạch xây tô, nền xi măng, mái tôn được ông L và bà X xây dựng năm 2012 (nhà yến 1); 01 nhà nuôi yến diện tích 360m² kết cấu tường gạch xây tô, nền xi măng, mái tôn được bà T1 xây dựng năm 2018 (nhà yến 2); 01 mái che diện tích 188,1m² kết cấu cột sắt, khung sắt, mái tôn, nền xi măng; 01 tường gạch diện tích 8,3m²; 30 cây tầm vông được ông L và bà X trồng năm 1992; 10 cây tre được ông L và bà X trồng năm 1992; 06 cây mít được ông L và bà X trồng năm 1995; 01 cây ổi; 01 cây bưởi; 03 cây me; 02 cây xoài; 01 cây vú sữa; 30 cây chuối; 03 cây mai được ông L và bà X trồng năm 1995; 01 cây sơ ri được ông L và bà X trồng năm 1995; 01 cây dừa được ông L và bà X trồng năm 1995; 01 cây vú sữa ông L và bà X trồng năm 2018.

  3. Đối với phần nợ chung: theo Hợp đồng tín dụng số 5502-LAV-201802679 ngày 19/9/2018, ông L và bà X có vay của Ngân hàng N4 - Chi nhánh thành phố T số tiền 2.000.000.000 đồng, thời hạn 60 tháng, mục đích vay để xây dựng, sửa chữa nhà nuôi yến, xây hàng rào, móc mương vườn cao su của gia đình và thế chấp Ngân hàng diện tích đất 52.149m² thuộc các thửa đất 73, 74, 75, 76, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương. Tại thời điểm khởi kiện, ông L và bà X còn nợ Ngân hàng số tiền 1.200.000.000 đồng. Ngày 06/9/2023, ông L đã trả hết nợ vay cho Ngân hàng N4 - Chi nhánh thành phố T, ông L xin rút lại yêu cầu này.

    Ông L thống nhất kết quả đo đạc, thẩm định, định giá của Tòa án kết hợp với cơ quan chuyên môn thực hiện, ông L không yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá lại quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tranh chấp.

    Về chi phí định giá tài sản: ông L thống nhất chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị X và người đại diện hợp pháp của bà X trình bày:

Trước yêu cầu khởi kiện của ông L, bà X có ý kiến đối với diện tích đất 3.149,1m² (trong đó 400m² đất thổ cư, còn lại diện tích đất vườn 2.749,1m²), tờ bản đồ số 49, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Huỳnh Tấn L ngày 14/7/2000, số 01273. Bà X thống nhất theo yêu cầu của ông L, chia quyền sử dụng đất thành 04 phần bằng nhau cho các thành viên gồm ông L, bà X, ông N và bà T1, các tài sản trên thửa đất ông L không yêu cầu chia và có nguyện vọng giao lại cho bà X, ông N và bà T1 tiếp tục quản lý, sử dụng bà X thống nhất.

Đối với các thửa đất 73, 74, 75 và 76 và một phần thửa đất số 89, tờ bản đồ số 52, diện tích 53.150,2m², được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L, bà X thì bà X có nguyện vọng đề nghị Tòa án chia thành bốn phần bằng nhau gồm: ông L, bà X, ông N, bà T1 mỗi người được hưởng một phần. Đối với các tài sản trên đất của ông L và bà X tạo lập, đề nghị giao cho người nào được hưởng phần đất nào thì có quyền quản lý, sử dụng tài sản trên phần đất đó.

Về nợ chung: đối với số tiền nợ Ngân hàng N4 - Chi nhánh thành phố T, bà X thừa nhận ý kiến của ông L là đúng, đây là khoản nợ chung, hiện nay bà X đã thực hiện trả lãi và trả nợ gốc hết cho Ngân hàng.

Đối với việc đo đạc, thẩm định tại chỗ, định giá lại tài sản bà X không yêu cầu đo đạc, thẩm định, định giá lại quyền sử dụng đất và tài sản tranh chấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Như T1 tại đơn yêu cầu độc lập đề ngày 25/9/2023 và các lời khai tại Tòa án người đại diện hợp pháp của bà T1 trình bày:

Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất các thửa 73, 74, 75, 76, tờ bản đồ số 52 là tài sản của hộ gia đình gồm 04 thành viên như sau: ông Huỳnh Tấn L, bà Nguyễn Thị X, ông Huỳnh Nhật N, bà Huỳnh Thị Như T1; bà T1 yêu cầu chia các quyền sử dụng đất thành các 04 phần bằng nhau. Thửa đất số 184, tở bản đồ số 49, diện tích 3.051m², tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương là tài sản của hộ gia đình nên bà T1 thống nhất yêu cầu khởi kiện của ông L và ý kiến của bà X chia đều cho 04 thành viên của hộ ông Huỳnh Tấn L; các tài sản trên thửa đất ông L không yêu cầu chia và có nguyện vọng giao lại cho bà X, ông N và bà T1 tiếp tục quản lý, sử dụng bà T1 thống nhất.

Đối với việc đo đạc, thẩm định tại chỗ, định giá lại tài sản, bà T1 không yêu cầu đo đạc, thẩm định, định giá lại quyền sử dụng đất và tài sản tranh chấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Nhật N và người đại diện hợp pháp của ông N trình bày:

Ông N thống nhất ý kiến của bà X và yêu cầu độc lập của bà T1, ông N không có ý kiến nào khác.

- Người kế thừa quyền lợi, nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị Ợ: ông Huỳnh Văn M, bà Huỳnh Thị P, ông Huỳnh Văn N1, ông Huỳnh Văn N2 trình bày: Hộ bà Ợ sử dụng thửa đất số 61, 64, 65, 68, 70, 77, 78 liên ranh với các thửa đất 76, 75, 71 hiện nay do ông L và bà X sử dụng, ranh đất các bên sử dụng rõ ràng, ổn định, không tranh chấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị B và ông Nguyễn Văn T3 trình bày: Bà B và ông T3 sử dụng thửa đất số 88, tờ bản đồ số 50, giáp với thửa đất số 76 của ông L và bà X, các bên sử dụng có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Đồn V1 và bà Trần Thị T2 trình bày: Ông V1 và bà T2 sử dụng thửa đất số 82, tờ bản đồ số 50, giáp với thửa đất số 75 của ông L và bà X, các bên sử dụng có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T4 trình bày: Bà T4 sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 50, giáp với thửa đất số 75 của ông L và bà X, các bên sử dụng có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Sỹ H trình bày: Ông H sử dụng thửa đất số 83, tờ bản đồ số 50, giáp với thửa đất số 75 của ông L và bà X, các bên sử dụng có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1 trình bày: Ông H1 sử dụng thửa đất số 81, tờ bản đồ số 50, giáp với thửa đất số 74, 75 của ông L và bà X, các bên sử dụng có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T5 trình bày: Ông T5 sử dụng thửa đất số 81, tờ bản đồ số 50, giáp với thửa đất số 75 của ông L và bà X, các bên sử dụng có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần C trình bày:

Theo bản tự khai và đơn xin vắng mặt đề ngày 12/10/2023 của Công ty Cổ phần C thể hiện: thửa đất số 79, 87 có sự chồng ranh giữa đất của Công ty Cổ phần C và đất ông L sử dụng, đề nghị ông L trả lại; đối với một phần thửa đất số 89 hiện nay ông L sử dụng nhưng qua kiểm tra không thuộc đất quản lý của Công ty Cổ phần C.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N4 - Chi nhánh thành phố T, tỉnh Bình Dương trình bày:

Theo Hợp đồng tín dụng số 5502-LAV-201802679 ngày 19/9/2018, ông L và bà X có vay của Ngân hàng N4 - Chi nhánh thành phố T số tiền 2.000.000.000 đồng, thời hạn 60 tháng, mục đích vay để xây dựng, sửa chữa nhà nuôi yến, xây hàng rào, móc mương vườn cao su của gia đình và thế chấp Ngân hàng diện tích đất 52.149m² thuộc các thửa đất 73, 74, 75, 76, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương. Ngày 06/9/2023, ông Huỳnh Tấn L đã trả hết nợ vay cho Ngân hàng N4 - Chi nhánh thành phố T nên Ngân hàng không còn quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tranh chấp tài sản giữa ông L và bà X, Ngân hàng yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện B trình bày:

Theo Văn bản số 3933/UBND-NC ngày 27/10/2021 của Ủy ban nhân dân huyện B thể hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L và bà X đối với các thửa đất 73, 74, 75, 76, tờ bản đồ số 23, cấp ngày 17/9/2007. Tuy nhiên, theo hồ sơ lưu trữ thì các thửa đất nêu trên thuộc tờ bản đồ số 52 tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Điều 134 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, nguồn gốc đất khai hoang năm 1986, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không tiến hành đo đạc thực tế, không có hồ sơ lấy ý kiến của các chủ sử dụng đất liền kề.

Đối với thửa đất số 184, tờ bản đồ số 49, cấp ngày 14/7/2000 cấp cho hộ ông Huỳnh Tấn L, trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Phần 2 Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của T9, nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị G năm 1991 được Ủy ban nhân dân xã B xác nhận ngày 28/12/1999, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ ông L gồm có ông L, bà X, ông N và bà T1, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không tiến hành đo đạc thực tế, không có hồ sơ lấy ý kiến của các chủ sử dụng đất liền kề.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 36/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn L về việc tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn với bà Nguyễn Thị X đối với diện tích đất 53.150,2m² (trong đó diện tích 3.286,6m² thuộc thửa đất số 73, diện tích 1.480,2m² thuộc thửa đất số 74, diện tích 27.058,1m² thuộc thửa đất số 75, diện tích 20.164,1m² thuộc thửa đất số 76, diện tích 1.162,2m² thuộc một phần thửa đất số 89) tờ bản đồ số 52 và các tài sản trên đất, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, như sau:

    1. Chia cho ông Huỳnh Tấn L được hưởng diện tích đất 24.640,6m² (trong đó diện tích 3.314,3m² thuộc một phần thửa đất số 75, diện tích đất 20.291,4m² thuộc thửa đất số 76 và diện tích đất 1.162,2m² thuộc một phần thửa đất số 89), tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại xã B, huyện B, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L và bà X ngày 17/9/2007, số vào sổ H 00711, gắn liền các tài sản trên đất gồm: 1.660 cây cao su (trong đó 1300 cây trồng năm 2006 và 360 cây trồng năm 2000); 48 cây huỳnh đường trồng năm 2000.

    2. Chia cho bà Nguyễn Thị X được hưởng diện tích đất 28.509,6m² (trong đó diện tích 3.285,6m² thuộc thửa đất số 73, diện tích 1.480,2m² thuộc thửa đất số 74, diện tích 23.743,8m² thuộc một phần thửa đất số 75), tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại xã B, huyện B, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L và bà X ngày 17/9/2007, số vào sổ H 00711, gắn liền các tài sản trên đất gồm: 01 nhà nuôi yến (nhà yến 1) diện tích 222,5m² (trong đó 9,3m² thuộc thửa đất số 73 và 213,2m² thuộc thửa đất số 75) ông L và bà X làm 2017, kết cấu mái tôn, tường gạch xây tô, nền xi măng; 01 bồn nước 2000 lít, diện tích 2,5m² thuộc thửa đất số 75, kết cấu chân trụ bê tông do ông L và bà X xây dựng năm 2017; 01 giếng khoan kèm theo mô tơ trên thửa đất số 75 được ông L và bà X làm năm 2017; 01 mái che diện tích 67,2m² (trong đó diện tích 57,2m² thuộc thửa đất số 71, diện tích 10m² thuộc thửa đất số 75), kết cấu cột bê tông, kèo sắt, mái tôn được ông L và bà X làm năm 2010; 01 nhà vệ sinh diện tích 2,2m² kết cấu tường gạch xây không tô, mái tôn, nền xi măng được ông L và bà X làm năm 2010; 01 hồ xử lý nước thải diện tích 0,8m² thuộc thửa đất số 75, được ông L và bà X làm năm 2010; 1.264 cây cao su ông L và bà X trồng năm 2000; 50 cây sầu riêng được ông L và bà X trồng năm 2000; 04 cây sầu riêng được ông L và bà X trồng năm 2018; 09 cây chôm chôm được bà X và ông L trồng năm 2018; 18 cây măng cụt được bà X và ông L trồng năm 2000; 05 cây dâu da được ông L, bà X trồng năm 2000; 15 cây dừa nhỏ được ông L và bà X trồng năm 2000; 65 cây dừa được ông L, bà X trồng năm 2019; 30 cây tre tàu được ông L, bà X trồng năm 2016; 41 cây chuối được ông L, bà X trồng năm 2017; 02 cây huỳnh đường được ông L, bà X trồng năm 2000, có sơ đồ bản vẽ kèm theo.

    3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Huỳnh Thị Như T1 về việc yêu công nhận diện tích đất 52.149m² thuộc các thửa 73, 74, 75, 76 tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L và bà X ngày 17/9/2007, số vào sổ H 00711 là tài sản chung của hộ gia đình ông L, bà X, ông N, bà T1.

  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn L về việc chia tài sản chung của hộ gia đình và yêu cầu độc lập của bà Huỳnh Thị Như T1.

    1. Công nhận diện tích đất 3.149,1m² (trong đó 400m² đất thổ cư, còn lại diện tích đất vườn 2.749,1m²), bao gồm (diện tích 2.814,5m² thửa 184, diện tích 208,4m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa 185, diện tích 102,9m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa 183, diện tích 23,3m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa 495) tờ bản đồ số 49, tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp số vào sổ 01273 QSDĐ/TU ngày 04/7/2000 là tài sản chung của hộ ông Huỳnh Tấn L gồm các thành viên ông Huỳnh Tấn L, bà Nguyễn Thị X, ông Huỳnh Nhật N và bà Huỳnh Thị Như T1.

    2. Bà Nguyễn Thị X, ông Huỳnh Nhật N, bà Huỳnh Thị Như T1 được tiếp tục quản lý sử dụng toàn bộ quyền sử dụng đất diện tích đất 3.149,1m² (trong đó 400m² đất thổ cư, còn lại diện tích đất vườn 2.749,1m²), bao gồm (diện tích 2.814,5m² thửa 184, diện tích 208,4m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa 185, diện tích 102,9m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa 183, diện tích 23,3m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa 495), tờ bản đồ số 49, tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp hộ ông Huỳnh Tấn L ngày 04/7/2000, số vào sổ 01273 QSDĐ/TU và các tài sản gắn liền với đất: 01 nhà cấp 4 diện tích 211,7m² được ông L và bà X xây dựng năm 1992, kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch hoa, mái ngói; 01 sân lát gạch bông diện tích 129,3m² được ông L và bà X xây dựng năm 1992; 01 bàn thiêng diện tích 0,25m²; 01 bồn nước 1000 lít (Inox) chân trụ bê tông do ông L và bà X xây dựng năm 2012; 01 giếng khoan kèm mô tơ bơm nước được ông L và bà X làm năm 2012; 01 nhà yến diện tích 100m² kết cấu tường gạch xây tô, nền xi măng, mái tôn được ông L và bà X xây dựng năm 2012 (nhà yến 1); 01 nhà yến diện tích 360m² kết cấu tường gạch xây tô, nền xi măng, mái tôn được bà T1 xây dựng năm 2018 (nhà yến 2); 01 mái che diện tích 188,1m² kết cấu cột sắt, khung sắt, mái tôn, nền xi măng; 01 tường gạch diện tích 8,3m²; 30 cây tầm vông được ông L và bà X trồng năm 1992; 10 cây tre được ông L và bà X trồng năm 1992; 06 cây mít được ông L và bà X trồng năm 1995; 01 cây ổi; 01 cây bưởi; 03 cây me; 02 cây xoài; 01 cây vú sữa; 30 cây chuối; 03 cây mai được ông L và bà X trồng năm 1995; 01 cây sơ ri được ông L và bà X trồng năm 1995; 01 cây dừa được ông L và bà X trồng năm 1995; 01 cây vú sữa ông L và bà X trồng năm 2018 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

    3. Bà Nguyễn Thị X, ông Huỳnh Nhật N, bà Huỳnh Thị Như T1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả số tiền 1.910.732.500 đồng (một tỷ chín trăm mười triệu bảy trăm ba mươi hai ngàn năm trăm đồng) là giá trị quyền sử dụng đất 787,2m² (trong đó 100m² đất thổ cư và 687,2m² diện tích đất vườn) thuộc thửa 84, tờ bản đồ số 49, đất tọa lạc tại xã B, huyện B.

      - Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.

      Ông L, bà X, ông N, bà T1 có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Bản án của Tòa án.

  3. Về nợ chung: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn L đối với số tiền 1.200.000.000 đồng nợ Ngân hàng N4 - Chi nhánh thành phố T.

    Ngoài ra, Bản án còn tuyên về nghĩa vụ nộp chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

    Sau khi án sơ thẩm tuyên, ngày 04/01/2024 bà X, bà T1, ông N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

    Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không hòa giải được với nhau và đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật.

    Ý kiến của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn như sau: tài sản nguyên đơn yêu cầu chia là tài sản do phần lớn công sức nguyên đơn tạo lập. Đối với phần đất 1.162m² và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 89 có tranh chấp với Công ty C thì nguyên đơn rút yêu cầu không tranh chấp. Đề nghị giữ nguyên các phần khác của bản án sơ thẩm.

    Ý kiến người đại diện cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông N, bà T1) như sau: Đối với việc nguyên đơn rút yêu cầu không tranh chấp số tiền nợ Ngân hàng N4 - Chi nhánh thành phố T và rút phần tranh chấp đất với Công ty C thì nguyên đơn thống nhất không có ý kiến gì. Đối với việc Tòa án sơ thẩm phân chia thửa đất 184 thành 04 phần bằng nhau cho 04 thành viên gia đình là ông L, bà X, ông N, bà T1 và giao toàn bộ đất, tài sản gắn liền với đất cho bà X, ông N, bà T1 sở hữu, sử dụng; bà X, ông N, bà T1 liên đới thanh toán giá trị đất cho ông L thì bà X, ông N và bà T1 thống nhất. Riêng đối với diện tích đất thuộc các thửa 73,74,75,76 và các tài sản gắn liền với đất thì đề nghị cũng chia 04 phần cho ông L, bà X, ông N, bà T1. Tuy nhiên do bản án sơ thẩm có nhiều vi phạm về tố tụng như: chưa thu thập đầy đủ chứng cứ, còn có phần đất chồng lấn với Công ty C, các tài sản của ông N tạo lập như nhà yến, nhà tạm chưa được xem xét vì nằm trên phần đất nằm ngoài thửa 71, 72; ông L còn thiếu nhiều khoản nợ vay ngoài ngân hàng và Thẩm phán cấp sơ thẩm chưa công bố tài liệu chứng cứ đầy đủ. Vì vậy đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại.

    Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

    Về tố tụng: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký và các đương sự đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

    Về nội dung vụ án: Xét thấy, nguyên đơn không có khởi kiện đối với diện tích 1.162m² thuộc thửa 89 tranh chấp với Công ty C nhưng Tòa án sơ thẩm giải quyết là vượt quá yêu cầu khởi kiện; Tòa án sơ thẩm giải quyết yêu cầu độc lập của bà T1 sau khi đã mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ là không đúng quy định, về phía Công ty C có ý kiến xác định diện tích đất 1.162m² thuộc thửa 89 thuộc quyền sử dụng của Công ty nhưng Tòa án sơ thẩm giao cho các đương sự sử dụng là sai; bản án sơ thẩm tuyên không rõ ràng khi buộc bà X, ông N, bà T1 liên đới thanh toán tiền nhưng không xác định thanh toán cho ai. Xét thấy bản án sơ thẩm có nhiều sai sót và vi phạm thủ tục tố tụng nên đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự huỷ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án sơ thẩm giải quyết lại.

    Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa:

    NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

    [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà X, ông N, bà T1 làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

    Tại phiên tòa phúc thẩm, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    [2] Về nội dung: ông L và bà X là vợ chồng chung sống từ năm 1978, quá trình sống chung có 02 người con là: ông Huỳnh Nhật N, sinh năm 1980 và bà Huỳnh Thị Như T1, sinh năm 1984. Trong quá trình sống chung có tạo lập được tài sản chung là nhà, đất và các tài sản khác. Sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ngày 30/10/2019 được Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên giải quyết ly hôn bằng Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 101/2019/QÐST-HNGĐ. Khi ly hôn ông L và bà X chưa chia tài sản chung. Nay ông L khởi kiện yêu cầu chia các tài sản chung gồm:

    [2.1] Diện tích đất 53.150,2m² (gồm các thửa đất số 73 có diện tích 3.286,6m²; thửa đất số 74 có diện tích 1.480,2m²; thửa đất số 75 có diện tích 27.058,1m²; thửa đất số 76 có diện tích 20.164,1m², một phần thửa đất số 89 có diện tích 1.162,2m²) tờ bản đồ số 52 tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương (các thửa đất số 73, 74, 75, 76 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L và bà X ngày 17/9/2007, số vào sổ H 00711; diện tích đất 1.162,2m² thuộc một phần thửa đất số 89 chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Công ty Cổ phần C quản lý nhưng ông L và bà X là người trực tiếp sử dụng). Tài sản gắn liền với diện tích đất 53.150,2m² gồm có: 01 nhà nuôi yến (nhà yến 1) diện tích 222,5m² có kết cấu mái tôn, tường gạch xây tô, nền xi măng (trong đó 9,3m² thuộc thửa đất số 73 và 213,2m² thuộc thửa đất số 75) được xây dựng vào năm 2017; 01 bồn nước 2000 lít có kết cấu chân trụ bê tông, diện tích 2,5m² thuộc thửa đất số 75 được xây năm 2017; 01 giếng khoan kèm theo mô tơ trên thửa đất số 75 được làm năm 2017; 01 mái che diện tích 67,2m² (trong đó 57,2m² thuộc thửa đất số 71, diện tích 10m² thuộc thửa đất số 75), kết cấu cột bê tông, kèo sắt, mái tôn được làm năm 2010; 01 nhà vệ sinh diện tích 2,2m² kết cấu tường gạch xây không tô, mái tôn, nền xi măng được làm năm 2010; 01 hồ xử lý nước thải diện tích 0,8m² thuộc thửa đất số 75 được làm năm 2010; 1300 cây cao su trồng năm 2006; 1.624 cây cao su trồng năm 2000; 50 cây sầu riêng trồng năm 2000; 04 cây sầu riêng trồng năm 2018; 09 cây chôm chôm trồng năm 2018; 18 cây măng cụt trồng năm 2000; 05 cây dâu da trồng năm 2000; 15 cây dừa trồng năm 2000; 65 cây dừa nhỏ trồng năm 2019; 30 cây tre tàu trồng năm 2016; 41 cây chuối trồng năm 2017; 50 cây huỳnh đường trồng năm 2000. Tất cả tài sản cây trồng trên ông L xác định đều do ông L, bà X tạo lập. Ông L yêu cầu được chia tài sản này thành 02 phần, ông L hưởng một phần, bà X một phần.

    [2.2] Diện tích đất 3.149,1m² (trong đó 400m² đất thổ cư, còn lại diện tích đất vườn 2.749,1m²) gồm (diện tích 2.814,5m² thửa đất số 184; diện tích 208,4m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa đất số 185; diện tích 102,9m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa đất số 183; diện tích 23,3m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa đất số 495) tờ bản đồ số 49, tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Huỳnh Tấn L ngày 04/7/2000, số vào sổ 01273 QSDĐ/TU (tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Huỳnh Tấn L gồm có ông L, bà X và các con ông N và bà T1). Ông L yêu cầu chia quyền sử dụng đất thành 04 phần bằng nhau, mỗi người được nhận diện tích đất 787,2m² (trong đó 100m² đất thổ cư), ông L yêu cầu hưởng bằng giá trị quyền sử dụng đất và giao quyền sử dụng đất các tài sản trên đất cho bà X, ông N, bà T1 trực tiếp quản lý sử dụng. Yêu cầu bà X, ông N và bà T1 phải liên đới thanh toán cho ông L giá trị quyền sử dụng đất. Đối với tài sản, cây trồng và công trình xây dựng trên thửa đất ông L đồng ý giao cho bà X, ông N, bà T1 sở hữu, sử dụng; ông L không tranh chấp.

    Tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp 4 diện tích 211,7m² được ông L và bà X xây dựng năm 1992, kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch hoa, mái ngói; 01 sân gạch bông diện tích 129,3m² được ông L và bà X xây dựng năm 1992; 01 bàn thiêng diện tích 0,25m²; 01 bồn nước 1000 lít (Inox) chân trụ bê tông do ông L và bà X xây dựng năm 2012; 01 giếng khoan kèm mô tơ bơm nước được ông L và bà X làm năm 2012; 01 nhà yến diện tích 100m² kết cấu tường gạch xây tô, nền xi măng, mái tôn được ông L và bà X xây dựng năm 2012 (nhà yến 1); 01 nhà yến diện tích 360m² kết cấu tường gạch xây tô, nền xi măng, mái tôn được bà T1 xây dựng năm 2018 (nhà yến 2); 01 mái che diện tích 188,1m² kết cấu cột sắt, khung sắt, mái tôn, nền xi măng; 01 tường gạch diện tích 8,3m²; 30 cây tầm vông được ông L và bà X trồng năm 1992; 10 cây tre được ông L và bà X trồng năm 1992; 06 cây mít được ông L và bà X trồng năm 1995; 01 cây ổi; 01 cây bưởi; 03 cây me; 02 cây xoài; 01 cây vú sữa; 30 cây chuối; 03 cây mai được ông L và bà X trồng năm 1995; 01 cây sơ ri được ông L và bà X trồng năm 1995; 01 cây dừa được ông L và bà X trồng năm 1995; 01 cây vú sữa ông L và bà X trồng năm 2018.

    [2.3] Đối với khoản nợ 1.200.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 5502-LAV-201802679 ngày 19/9/2018 của Ngân hàng N4 - Chi nhánh thành phố T do hiện nay khoản nợ trên đã tất toán xong nên ông L rút yêu cầu khởi kiện này.

    Trước yêu cầu của ông L, về phía bà X xác định các tài sản trên là tài sản chung của cả ông L, bà X, bà T1, ông N. Bà X yêu cầu chia tài sản trên làm 04 phần bằng nhau. Đối với ý kiến rút yêu cầu khởi kiện về khoản nợ Ngân hàng của ông L thì bà X đồng ý.

    Ý kiến của bà T1, ông N thống nhất với ý kiến của bà X. Sau khi bản án sơ thẩm tuyên, bà X, bà T1, ông N kháng cáo.

    [3] Xét kháng cáo của bà X, bà T1, ông N:

    [3.1] Đối với diện tích đất 53.150,2m² thuộc mục [2.1] và các tài sản trên đất thấy rằng: Theo Công văn số 4586 (BL 177) ngày 08/9/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện B xác định trong diện tích đất nêu trên thì một phần thửa đất số 89 có diện tích 1.162,2m² đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp quyền sử dụng cho Công ty C. Như vậy Công ty C là tổ chức được cấp quyền sử dụng đối với diện tích đất này, theo ý kiến của đại diện Công ty C cũng đề nghị ông L trả lại phần đất của Công ty C. Tuy nhiên bản án sơ thẩm công nhận diện tích đất 1.162,2m² nêu trên thuộc quyền sử dụng của ông L, bà X và chia cho ông L sử dụng diện tích đất này là không có căn cứ. Hiện nay, chưa có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền về điều chỉnh biến động đối với diện tích đất nêu trên. Do đó, việc Tòa án sơ thẩm chưa thu thập ý kiến của cơ quan có thẩm quyền cấp quyền sử dụng diện tích đất này nhưng đã quyết định giao cho ông L sử dụng đất là chưa có căn cứ. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút yêu cầu tranh chấp đối với phần thửa đất số 89 có diện tích 1.162,2m² và tài sản gắn liền với đất là 153 cây cao su và 48 cây huỳnh đường. Vì vậy Hội đồng xét xử huỷ và đình chỉ xét xử một phần quyết định của bản án sơ thẩm về việc công nhận cho ông L sử dụng 1.162,2m² và các tài sản gắn liền với diện tích đất này.

    [3.2] Đối với diện tích đất còn lại là 52.988m² (thuộc các thửa 73,74,75,76) xét thấy: theo hồ sơ đăng ký đất đai thể hiện nguồn gốc đất trên do ông L, bà X khai phá canh tác từ năm 1986 và đến ngày 19/7/2007 thì được cấp Giấy CNQSDĐ cho ông L, bà X. Như vậy diện tích đất trên được khai phá khi bà T1, ông N còn rất nhỏ (ông N khoảng 6 tuổi, bà T1 khoảng 2 tuổi); đồng thời, khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp quyền sử dụng đất trên cho ông L, bà X vào năm 2007 thì cũng chỉ cấp quyền sử dụng cho ông L, bà X như vậy tài sản trên là tài sản của ông L, bà X. Bà T1, ông N không có ý kiến phản đối gì đối với việc cấp quyền sử dụng đất này. Diện tích đất trên được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông L, bà X còn tồn tại, do đó, Tòa án sơ thẩm xác định diện tích đất này là tài sản chung của ông L, bà X là có căn cứ; đồng thời, Tòa án sơ thẩm chia cho ông L 23.478,4m² (đã trừ diện tích 1.162,2m² thuộc thửa 89) và chia cho bà X 28.509,6m² cùng các tài sản gắn liền với diện tích đất được chia là có sơ sở. Mặc dù công sức tạo lập diện tích đất và tài sản nêu trên ông L có công sức nhiều hơn nhưng ông L chỉ yêu cầu Tòa án sơ thẩm chỉ chia cho ông L phần ít hơn (khoảng 44% so với 56% của bà X). Bà X, bà T1, ông N kháng cáo yêu cầu chia diện tích đất trên thanh 04 phần cho 04 người gồm ông L, bà X, bà T1, ông N mỗi người một phần nhưng bà X, bà T1, ông N không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên yêu cầu trên của bà X, bà T1, ông N không được chấp nhận. Đối với tài sản gắn liền với phần đất được chia cho ông L, bà X do ông L, bà X tạo lập nên ông L, bà X được sở hữu, sử dụng các tài sản gắn liền với diện tích đất được chia.

    [3.3] Đối với diện tích đất 3.149,1m² thuộc thửa 184 mục [2.2] và các tài sản trên đất thấy rằng: nguồn gốc đất này do các thành viên hộ gia đình ông L cùng có công sức khai phá, tạo lập đến ngày 04/7/2000 thì hộ gia đình ông L (gồm có ông L, bà X, bà T1 và ông N) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, Tòa án sơ thẩm xác định diện tích đất trên là tài sản chung của hộ gia đình gồm: ông L, bà X, bà T1, ông N là có căn cứ; đồng thời Tòa án sơ thẩm chia diện tích đất trên cho 04 thành viên gia hộ gia đình ông L mỗi người 01 phần bằng nhau là phù hợp. Do ông L yêu cầu được thanh toán bằng giá trị đất và không tranh chấp tài sản gắn liền với đất mà đồng ý giao toàn bộ tài sản gắn liền với đất cho bà X, bà T1, ông N sở hữu, sử dụng nên Tòa án sơ thẩm giao toàn bộ diện tích đất trên cho bà X, bà T1, ông N sử dụng và liên đới thanh toán giá trị đất cho ông L là có căn cứ. Đối với tài sản trên đất do ông L không có tranh chấp nên Tòa án sơ thẩm giao tài sản trên đất cho bà X, bà T1, ông N sở hữu, sử dụng là phù hợp. Tại phiên toà, đại diện hợp pháp của bị đơn cũng thống nhất phần quyết định của bản án sơ thẩm về vấn đề nêu trên. Theo biên bản định giá ngày 31/7/2024 thì giá đất ở là 4.200.000 đồng/m² đất vườn là 2.500.000 đồng/m². Như vậy tổng giá trị thửa đất trên là 8.552.750.000 đồng. Do đó bà X, bà T1, ông N liên đới thanh toán 1/4 giá trị đất cho ông L là 2.138.187.500 đồng.

    [4] Đối với khoản nợ 1.200.000.000 đồng: do ông L rút yêu cầu giải quyết về nợ chung, bà X và những người liên quan không phản đối nên Tòa án sơ thẩm đình chỉ giải quyết là có căn cứ, phù hợp với Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    [5] Ý kiến của đại diện hợp pháp của bị đơn cho rằng cần xem xét các khoản nợ ông L vay ngoài ngân hàng, Tòa án thấy rằng do các đương sự không có đơn yêu cầu giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án sơ thẩm không xem xét giải quyết là có căn cứ. Các đương sự có quyền yêu cầu xem xét giải quyết bằng một vụ việc khác. Đối với ý kiến cho rằng có sự tranh chấp đất nhưng chưa có căn cứ rõ ràng đối với phần đất tranh chấp với Công ty C thì phần này nguyên đơn đã rút yêu cầu nên đình chỉ xét xử và huỷ quyết định của bản án sơ thẩm về phần này. Ngoài ra, đối với việc chồng lấn đất với hộ bà Nguyễn Thị Ợ thì xét thấy Tòa án sơ thẩm đã thu thập ý kiến các thành viên gia đình bà Ợ và đã có ý kiến xác định ranh đất là ổn định, không có tranh chấp nên không có sự tranh chấp ranh đất với hộ bà Ợ.

    Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát cho rằng bản án tuyên không rõ ràng khi không xác định rõ bà X, bà T1, ông N liên đới thanh toán tiền cho ai thì phần quyết định Hội đồng xét xử sẽ sửa chữa, bổ sung cho phù hợp.

    Xét thấy, Tòa án sơ thẩm giải quyết và chia tài sản cho các đương sự là phù hợp với công sức đóng góp của các đương sự và có xem xét đến điều kiện hoàn cảnh của các bên. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn có rút một phần yêu cầu, do đó chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: huỷ và đình chỉ xét xử một phần bản án sơ thẩm; sửa một phần bản án sơ thẩm; không chấp nhận yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm của người đại diện hợp pháp của bị đơn và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông N, bà X).

    [6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm là chưa phù hợp.

    [7] Về án phí phúc thẩm: Bà X, ông N và bà T1 không phải chịu án phí phúc thẩm.

    Vì các lẽ trên,

    QUYẾT ĐỊNH:

    - Căn cứ Khoản 2 Điều 308, khoản 4 Điều 308, Điều 309, 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;

    - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Tuyên xử:

    1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Như T1, ông Huỳnh Nhật N.

    2. Huỷ 01 phần quyết định của bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết về việc giao diện tích 1.162m² thuộc thửa 89 và cây trồng gắn liền với đất là 153 cây cao su và 48 cây huỳnh đường cho ông Huỳnh Tấn L sử dụng, sở hữu.

    3. Sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 36/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TAND huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương như sau:

      1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn L về việc tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn với bà Nguyễn Thị X đối với diện tích đất 52.988m² (trong đó diện tích 3.286,6m² thuộc thửa đất số 73, diện tích 1.480,2m² thuộc thửa đất số 74, diện tích 27.058,1m² thuộc thửa đất số 75, diện tích 20.164,1m² thuộc thửa đất số 76) tờ bản đồ số 52 và các tài sản trên đất, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương.

        1. Chia cho ông Huỳnh Tấn L được hưởng phần diện tích đất 23.478,4m² (trong đó diện tích 3.314,3m² thuộc một phần thửa đất số 75, diện tích đất 20.291,4m² thuộc thửa đất số 76), tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại xã B, huyện B, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L và bà X vào ngày 17/9/2007, số vào sổ H 00711, gắn liền các tài sản trên đất gồm: 1.507 cây cao su (trong đó 1.300 cây trồng năm 2006 và 207 cây trồng năm 2000);

        2. Chia cho bà Nguyễn Thị X được hưởng diện tích đất 28.509,6m² (trong đó diện tích 3.285,6m² thuộc thửa đất số 73, diện tích 1.480,2m² thuộc thửa đất số 74, diện tích 23.743,82 m² thuộc một phần thửa đất số 75), tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại xã B, huyện B (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L và bà X ngày 17/9/2007, số vào sổ H 00711). Tài sản gắn liền trên đất gồm: 01 nhà nuôi yến (nhà yến 1) diện tích 222,5 m² (trong đó 9,3m² thuộc thửa đất số 73 và 213,2m² thuộc thửa đất số 75), kết cấu mái tôn, tường gạch xây tô, nền xi măng; 01 bồn nước 2000 lít, diện tích 2,5m² thuộc thửa đất số 75, kết cấu chân trụ bê tông; 01 giếng khoan, kèm theo mô tơ trên thửa đất số 75; 01 mái che diện tích 67,2m² (trong đó 57,2m² thuộc thửa đất số 71, diện tích 10m² thuộc thửa đất số 75), kết cấu cột bê tông, kèo sắt, mái tôn; 01 nhà vệ sinh diện tích 2,2m² kết cấu tường gạch xây không tô, mái tôn, nền xi măng; 01 hồ xử lý nước thải diện tích 0,8m² thuộc thửa đất số 75; 1.264 cây cao su trồng năm 2000; 50 cây sầu riêng trồng năm 2000; 04 cây sầu riêng trồng năm 2018; 09 cây chôm chôm trồng năm 2018; 18 cây măng cụt trồng năm 2000; 05 cây dâu da trồng năm 2000; 15 cây dừa nhỏ trồng năm 2000; 65 cây dừa trồng năm 2019; 30 cây tre tàu trồng năm 2016; 41 cây chuối trồng năm 2017; 02 cây huỳnh đường trồng năm 2000. (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

        3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Như T1 về việc yêu công nhận diện tích đất 52.149m² thuộc các thửa 73, 74, 75, 76, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L và bà X ngày 17/9/2007, số vào sổ H 00711 là tài sản chung của hộ gia đình ông L, bà X, ông N, bà T1.

      2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn L và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Như T1 về việc chia tài sản chung của hộ gia đình:

        1. Công nhận diện tích đất 3.149,1m² (trong đó 400m² đất thổ cư, còn lại diện tích đất vườn 2.749,1m². Gồm diện tích 2.814,5m² thửa 184, diện tích 208,4m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa 185; diện tích 102,9m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa 183; diện tích 23,3m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa 495) tờ bản đồ số 49, tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp số vào sổ 01273 QSDĐ/TU ngày 04/7/2000 là tài sản chung của hộ ông Huỳnh Tấn L gồm các thành viên ông Huỳnh Tấn L, bà Nguyễn Thị X, ông Huỳnh Nhật N và bà Huỳnh Thị Như T1.

        2. Giao bà Nguyễn Thị X, ông Huỳnh Nhật N, bà Huỳnh Thị Như T1 được quản lý sử dụng toàn bộ quyền sử dụng đất diện tích đất 3.149,1m² (trong đó 400m² đất thổ cư, còn lại diện tích đất vườn 2.749,1m²), gồm (diện tích 2.814,5m² thửa 184, diện tích 208,4m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa 185, diện tích 102,9m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa 183, diện tích 23,3m² đo đạc chỉnh giảm từ thửa 495), tờ bản đồ số 49, tại xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp hộ ông Huỳnh Tấn L ngày 04/7/2000, số vào sổ 01273 QSDĐ/TU và các tài sản gắn liền với đất: 01 nhà cấp 4 diện tích 211,7m² xây dựng năm 1992, kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch hoa, mái ngói; 01 sân lát gạch bông diện tích 129,3m² xây dựng năm 1992; 01 bàn thiêng diện tích 0,25m²; 01 bồn nước (I) 1000 lít chân trụ bê tông xây dựng năm 2012; 01 giếng khoan kèm mô tơ bơm nước làm năm 2012; 01 nhà nuôi yến (nhà yến 1) diện tích 100m² kết cấu tường gạch xây tô, nền xi măng, mái tôn xây dựng năm 2012; 01 nhà nuôi yến (nhà yến 2) diện tích 360m² kết cấu tường gạch xây tô, nền xi măng, mái tôn xây dựng năm 2018; 01 mái che diện tích 188,1m² kết cấu cột sắt, khu sắt, mái tôn, nền xi măng; 01 tường gạch diện tích 8,3m²; 30 cây tầm vông trồng năm 1992; 10 cây tre trồng năm 1992; 06 cây mít trồng năm 1995; 01 cây ổi; 01 cây bưởi; 03 cây me, 02 cây xoài; 01 cây vú sữa; 30 cây chuối; 03 cây mai trồng năm 1995; 01 cây sơ ri trồng năm 1995; 01 cây dừa trồng năm 1995; 01 cây vú sữa trồng năm 2018, (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

        3. Buộc bà Nguyễn Thị X, ông Huỳnh Nhật N, bà Huỳnh Thị Như T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Huỳnh Tấn L số tiền 2.138.187.500 đồng (hai tỷ một trăm ba mươi tám triệu một trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

          Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.

          Ông L, bà X, ông N, bà T1 có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất và tài sản theo quy định của pháp luật.

      3. Về nợ chung: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn L đối với số tiền 1.200.000.000 đồng nợ Ngân hàng N4 - Chi nhánh thành phố T.

      4. Về chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản: ông Huỳnh Tấn L phải chịu số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng), ông L đã thực hiện xong.

      5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

        Ông Huỳnh Văn L2 và bà Nguyễn Thị X được miễn nộp án sơ thẩm.

        Bà Huỳnh Thị Như T1 phải chịu số tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 74.760.000 đồng (bảy mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0010503 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên. Bà Huỳnh Thị Như T1 phải nộp tiếp số tiền án phí sơ thẩm 74.460.000 đồng (bảy mươi bốn triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).

        + Ông Huỳnh Nhật N phải chịu số tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 74.760.000 đồng (bảy mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

        Về chi phí xem xét, thẩm định và định giá lại tài sản tranh chấp tại cấp phúc thẩm là 3.300.000 đồng, bà X đã tạm ứng và đã thực hiện xong. Buộc ông Huỳnh Tấn L phải thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị X chi phí tố tụng là 1.650.000 đồng.

      6. Áp phí phúc thẩm: các đương sự không phải nộp. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên hoàn trả cho ông Huỳnh Nhật N, bà Huỳnh Thị Như T1 mỗi người 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu số 0003613 ngày 15/01/2024 và Biên lai thu số 0003612 ngày 15/01/2024.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (ngày 16/8/2024)./.

    Nơi nhận:

    • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;

    • - Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên;

    • - Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên;

    • - Các đương sự;

    • - Tổ Hành chính Tư pháp;

    • - Lưu: Hồ sơ, Tòa Gia đình và người chưa thành niên.

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

    THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    (đã ký)

    Đoàn Hoài Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chia tài sản chung sau khi ly hôn, sửa một phần và đình chỉ và hủy một phần yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger