Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAM RANH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/8/2024.

“V/v tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH,

TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Nho Trí;

2. Bà Trương Thị Diễm.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 15/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều N, sinh năm: 1994;

Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lai Minh T, sinh năm 1994;

Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lai Minh T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2015, đến năm 2016 ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 18 tháng 02 năm 2016. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng ông bà bất đồng quan điểm sống, sống không hạnh phúc nên ông bà ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay bà N xác định vợ chồng không thể hàn gắn và mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Lai Minh T.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Lai Hoàng Q, sinh ngày: 21/02/2016 và Lai Hoàng P, sinh năm: 20/3/2018. Bà N yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung. Không yêu cầu ông Lai Minh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kiều N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kiều N trình bày vợ chồng không có nợ chung.

* Bị đơn ông Lai Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt.

* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh:

- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng: Thẩm phán và thư ký chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kiều N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn đối với ông Lai Minh T. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và bị đơn ông Lai Minh T vắng mặt nên căn cứ theo khoản 2 Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Kiều N và ông Lai Minh T.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều N và ông Lai Minh T tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 18 tháng 02 năm 2016. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kiều N và ông Lai Minh T là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của đương sự có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không hạnh phúc do có nhiều mâu thuẫn, không hòa hợp và vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay không thể hàn gắn tình cảm với bị đơn nên nguyên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn. Bị đơn triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt. Như vậy, mục đích hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn không đạt được, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn.

[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kiều N và ông Lai Minh T có 02 con chung tên Lai Hoàng Q, sinh ngày: 21/02/2016 và Lai Hoàng P, sinh năm: 20/3/2018.

Nguyên đơn đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung. Xét thấy: Hiện nay các con chung còn nhỏ, đang trực tiếp sinh sống cùng với mẹ, cháu Lai Hoàng Q có nguyện vọng được ở với mẹ nên tiếp tục giao hai con chung cho bà N nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Kiều N không yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kiều N không yêu cầu Toà án giải quyết.

[3] Án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ:

- Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều N:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều N được ly hôn với ông Lai Minh T.

2. Về con chung: Giao con chung Lai Hoàng Q, sinh ngày: 21/02/2016 và Lai Hoàng P, sinh năm: 20/3/2018 cho bà Nguyễn Thị Kiều N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Kiều N không yêu cầu ông Lai Minh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kiều N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí về việc ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004585 ngày 22/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Bà Nguyễn Thị Kiều N đã nộp đủ án phí.

5. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kiều N-Lai Minh T-BA
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger