Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/DS-PT

Ngày: 15 – 7 – 2024

V/v “Tranh đòi quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương;

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuý Hoàn và bà Đỗ Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuỳ Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2023/TLPT-DS, ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST, ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 42/2024/QĐXX-DSPT ngày 03 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 42/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Vũ Huy H (đã chết) và bà Trần Thị T, sinh năm 1953; Đều có nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương.
  2. Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông H: (Đều vắng mặt)

  3. Bà Trần Thị T, sinh năm 1953; Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương;
  4. Anh Vũ Huy L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương;
  5. Chị Vũ Thị Y, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn L, xã G, huyện Y, tỉnh Hưng Yên;
  6. Chị Vũ Thị L1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương;
  7. Anh Vũ Huy T1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và những người thừa kế quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn: Chi nhánh Công ty L5 tại tỉnh Lạng Sơn; Người đại diện: Luật sư Phạm Duy K; Địa chỉ: Số E T, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (Có mặt)

  1. Bị đơn: Ông Vũ Huy T2, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
  2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Vũ Huy T3, sinh năm 1955; Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình; (Có mặt)
    2. Bà Vũ Thị V, sinh năm 1949; Địa chỉ: Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh T – xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
    3. Người đại diện hợp pháp của bà V: Ông Vũ Huy T3, sinh năm 1955.

      Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà V: Ông Vũ Ngọc T4 – Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Bình. (Có mặt)

    4. Bà Vũ Thị N, sinh năm 1951; Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình; (Vắng mặt)
    5. Bà Vũ Thị X, sinh năm 1961; Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình; (Có mặt)
    6. Bà Vũ Thị T5, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
  3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn ông Vũ Huy H khi còn sống và bà Trần Thị T thống nhất trình bày: Gia đình ông bà có thửa đất được bố mẹ để lại cho vợ chồng, có tên tại thửa đất số 162, tờ bản đồ số 03, diện tích 498m² tại thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Năm 1993, gia đình ông bà nhượng bán cho ông Vũ Huy T2 diện tích 280m² về phía ao của thửa đất (không có nhà), diện tích còn lại là 218m², có tài sản trên đất là 05 gian nhà bằng gỗ để thờ cúng tổ tiên, khi nhượng bán chỉ nói bằng miệng, chưa làm giấy chuyển nhượng cho ông T2 với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Chủ tịch xã C (là người nhà ông T2 đã tự giao đất cho ông T2 khi vắng mặt gia đình ông bà. Năm 2007 do có chính sách mới về việc đo đạc lại đất thổ cư, mảnh đất của ông bà được cán bộ địa chính xã đến đo đạc (cán bộ địa chính là ông Vũ Huy T6 – cháu của ông T2), lúc này gia đình ông bà không được biết, cán bộ địa chính cũng không gọi gia đình ông bà về và tiến hành đo đạc vắng mặt gia đình ông bà. Trong bản đồ đo đạc 2007 ghi người thực hiện là Đào Văn C, người kiểm tra là Lê Đình T7, cán bộ Địa chính là Vũ Huy T6; phòng đo đạc bản đồ - Sở T13 là Trần Duy H1 đã tự ý tách thửa đất số 162, diện tích 498m² của gia đình ông bà thành bản đồ riêng của ông T2, có diện tích là 319,3m², còn diện tích 157,9m² ghi tên là Vũ Thị T8. Năm 2007 gia đình ông bà không còn tên trên bản đồ địa chính nữa, trong hồ sơ địa chính ông T6 ghi Vũ Huy H, diện tích 157,9m² + 22,5m² = 180m², ghi tên hồ sơ địa chính và bản đồ khớp tên nhau; hồ sơ ghi Vũ Huy H, bản đồ ghi Vũ Thị T8; như vậy năm 2007, anh T6 làm sai với quy định của pháp luật. Diện tích đúng của gia đình ông bà phải là 218m² và ngôi nhà 05 gian nằm trong diện tích này, ông T6 đã làm không đúng diện tích đất của gia đình ông bà, hiện nay chỉ còn 180m², mất ngôi nhà 05 gian, ngôi nhà 05 gian có diện tích khoảng 40m², lý do là ông T3 (anh trai ông T2) viết đơn bán nhà giả mạo để che mắt pháp luật, từ đó ông T2 đã phá nhà 05 gian, chiếm diện tích 39,3m² nằm trong diện tích đất 218m² của gia đình ông bà về phía T, giáp nhà ông Đỗ Văn T9, sau đó ông T2 đã làm nhà trên đó nhằm xoá dấu vết, xây bao kín hết thổ đất dài 26 mét mặt đường, không còn lối vào thửa đất của gia đình ông bà; theo đo đạc hiện trạng thì diện tích của ông T2 thừa 38,6m². Vì vậy ông bà đề nghị Toà án buộc ông Vũ Huy T2 phải trả lại diện tích đất 38,6m² (là vị trí nền nhà 05 gian) nằm trong diện tích đất 218m² của gia đình ông bà, giáp nhà ông Đỗ Văn T9, đầu nhà quay ra mặt đường.

Ông H, bà T bổ sung thêm yêu cầu đề nghị Toà án buộc ông T2 phải làm lại cho gia đình ông, bà ngôi nhà gỗ 05 gian lợp rạ trên nền diện tích đất 38,6m². Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút yêu cầu đòi lại ngôi nhà 5 gian.

Ông H, bà T xin rút lại đề nghị Toà án trưng cầu giám định đối với chữ ký của ông H trong các văn bản: Đơn xin chuyển nhượng nhà ở + hoa màu đề ngày 23-12-1988 và Giấy chuyển nhượng và đo đạc không đề ngày có đại diện chính quyền địa phương xác nhận. Tại giai đoạn phúc thẩm, bà T có yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định những văn bản nêu trên.

Bị đơn ông Vũ Huy T2 trình bày: Hiện nay ông đang sử dụng thửa đất số 242, tờ bản đồ địa chính số 04, bản đồ đo đạc 2007, diện tích 319,3m² (đất ONT và LNK) tại thôn V, xã C, huyện H, nguồn gốc thửa đất này do anh trai ông là Vũ Huy T3, mua của ông Vũ Huy H vào năm 1991, diện tích 280m² đất với giá tiền 2.500.000 đồng gồm quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất, có văn bản chuyển nhượng, cũng trong năm này thì UBND xã C tiến hành đo đạc và bàn giao diện tích đất này cho ông T3 (có mặt ông H chứng kiến và ký biên bản); nguồn gốc số tiền mua đất là của mẹ ông. Đến năm 1992, ông T3 và các anh chị em trong nhà nhất trí cho ông diện tích đất này để ở (chỉ nói bằng miệng, không có văn bản), tại thời điểm này trên diện tích đất có 01 ngôi nhà gỗ 05 gian lợp rạ. Đến năm 1999 do nhà gỗ lợp rạ bị sập nên ông rỡ nhà cũ này để xây dựng nhà mới, việc ông xây dựng nhà mới thì vợ chồng ông H đều biết và không có ý kiến phản đối gì; cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lí vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Ông sinh sống từ năm 1992 đến nay không có tranh chấp gì với vợ chồng ông H cũng như bất kỳ cá nhân hay tập thể nào, từ năm 1992 thì ông là người đóng thuế quyền sử dụng đất cho Nhà nước. Diện tích đất tăng lên 38,6m² là trước đây UBND xã C giao đất cho ông như vậy; ông nhất trí trả lại ông H và bà T diện tích đất 38,6m² về phía Nam thửa đất của ông, ông không nhất trí về yêu cầu diện tích đất này nằm ở diện tích đất ông đã xây nhà và không nhất trí làm lại ngôi nhà gỗ 05 gian lợp rạ vì việc ông nhận chuyển nhượng có văn bàn, có nội dung rõ ràng, đã được cấp có thẩm quyền xác nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Huy T3 trình bày: Ông Vũ Huy T2 là em trai ông. Hiện nay ông T2 đang sử dụng thửa đất số 242, tờ bản đồ địa chính số 04, bản đồ đo đạc 2007, diện tích 319,3m² (đất ONT và LNK) tại thôn V, xã C, huyện H, nguồn gốc thửa đất này do mẹ ông khi còn sống đưa tiền cho ông để mua của ông Vũ Huy H vào năm 1991, diện tích là 280m², ông chỉ thay mặt mẹ ông làm các giấy tờ; cũng trong năm 1991, mẹ ông cùng các anh chị em bàn giao thửa đất mua của ông H cho em trai ông là Vũ Huy T2, có nhờ UBND xã C tiến hành đo đạc và bàn giao diện tích đất này cho ông T2. Trên thửa đất mua của ông T2 có ngôi nhà gỗ 05 gian lợp rạ, 01 sân, 02 cây cau và 01 bể nước khoảng 05m³, đến năm 1999 thì ông T2 rỡ nhà gỗ 05 gian lợp rạ này để xây nhà mới bây giờ, việc ông T2 rỡ nhà cũ là do bị sập và xây nhà mới thì vợ chồng ông H đều biết và đều không có ý kiến phản đối gì, hàng năm ông H đều về quê có sang nhà ông T2 chơi và thắp hương ông bà tổ tiên, khi ông T2 xây nhà cũng không bị vợ chồng ông H ngăn cấm hay bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Từ khi mua đất, ông T2 sinh sống từ đó đến nay không có tranh chấp với ai, khi chuyển nhượng đất với ông H, có lập văn bản, có mặt các bên chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng, có đại diện thôn V và đại diện chính quyền địa phương xác nhận. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông H là hợp pháp, đã giao đủ tiền, có văn bản chuyển nhượng, có đầy đủ chữ ký của các bên cũng như có sự chứng kiến của đại diện thôn V, các xác nhận của UBND xã C, đã sử dụng ổn định hơn 32 năm nay không có bất kỳ tranh chấp nào; ông và các anh chị em trong nhà đều không có tranh chấp diện tích đất ông T2 đang sử dụng; qua đo đạc hiện trạng thì ông được biết diện tích của ông T2 tăng lên 38,6m², ông hoàn toàn nhất trí với quan điểm của ông T2 trình bày tại phiên toà là trả lại cho ông H, bà T diện tích đất 38,6m².

Bà Vũ Thị X nhất trí với ý kiến trình bày của ông Vũ Huy T2 và ông Vũ Huy T3, không bổ sung thêm ý kiến gì.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/02/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị N, bà Vũ Thị T5 trình bày: Không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà T; không tranh chấp với ông T2 về diện tích đất ông T2 đang sử dụng; đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc của Toà án và vắng mặt tại phiên toà xét xử.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/6/2023, ông Nguyễn Quang T10, sinh năm 1957 ở thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình trình bày: Giữa thửa đất của gia đình ông với thửa đất của gia đình ông Vũ Huy T2 không có tranh chấp, đề nghị Toà án không đưa ông vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/6/2023 ông Đặng Thanh L2, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Văn S đều trình bày: Các ông đều ký tên vào biên bản bán nhà giữa ông Vũ Huy H và ông Vũ Huy T2 nhưng không nhớ chính xác năm nào

Tại các biên bản xác minh, làm việc, UBND xã C cung cấp: Theo đo đạc bản đồ số 299 năm 1985 thì thửa đất số 162, tờ bản đồ số 03, diện tích 498m² ở thôn V, xã C, huyện H mang tên chủ sử dụng là ông Vũ Huy H. Theo đo đạc bản đồ hiện trạng năm 2007 thì thửa đất số 162 được tách thành 02 thửa gồm: Thửa đất số 263, tờ bản đồ số 04, diện tích 157,9m², bên cạnh có lối đi bên trong giáp với thửa đất của ông Vũ Huy T2 và ông Đỗ Văn T11, chiều dài khoảng 12,4 mét, chiều rộng là 1,8 mét, diện tích là 22,5m²; tổng diện tích khoảng 180,4m² mang tên chủ sử dụng là ông Vũ Huy H và thửa đất số 242, tờ bản đồ số 04, diện tích 319,3m² mang tên chủ sử dụng là ông Vũ Huy T2. Lý do tách thửa đất số 162 và lý do ông Vũ Huy T2 đứng tên chủ sử dụng thửa đất số 242 là do năm 1991, ông Vũ Huy H có đơn xin trả đất cho UBND xã C, huyện H, diện tích 280m² (nằm trong diện tích đất 498m² của thửa đất số 162). Năm 1990, ông Vũ Huy V1 (bố đẻ của ông Vũ Huy T2) và năm 1991, ông Vũ Huy T2 đều có đơn đề nghị xin cấp đất gửi đến UBND xã C. Ngày 19/01/1992, UBND xã C đã lập biên bản kiểm tra xét chuyển dịch nhà đất (giao đất) đối với phần diện tích đất 280m² mà ông H đã trả UBND xã C sang tên chủ sử dụng là ông Vũ Huy T2; lý do diện tích đất của ông Vũ Huy T2 theo đo đạc bản đồ hiện trạng 2007 so với thời điểm UBND xã C giao đất năm 1992 có tăng lên 39,3m² là do ông Vũ Huy T2 lấn chiếm một phần diện tích đất ao của hộ gia đình ông Nguyễn Quang T10, sinh năm 1955 ở thôn V, xã C, huyện H, không lấn chiếm đường giao thông do UNBD xã quản lý. Theo bản đồ đo đạc hiện trạng năm 2007 thì diện tích đất thuộc quyền sử dụng của ông Vũ Huy H giảm 37,6 m², lý do là do hộ liền kề ông Đỗ Văn T9 hiện tại đang sử dụng diện tích đất này của ông Vũ Huy H.

Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 147; Điều 156; Điều 157; Điều 158; Điều 164; Điều 165; Điều 166; Điều 235; Điều 271; Điều 273; Điều 579 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 100; Điều 203 Luật đất đai. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Xử Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, bà T về yêu cầu ông T2 phải làm lại ngôi nhà gỗ 05 gian lợp rạ cho ông H, bà T và yêu cầu đòi diện tích đất 38,6m² ở nền ngôi nhà hiện nay ông T2 đang sử dụng.
  2. Xử Chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện của ông H, bà T; buộc ông T2 phải trả lại ông H, bà T diện tích đất 38,6m² (phía Nam thửa đất của ông T2), ký hiệu S4, có các tứ cận như sau:
    • + Hướng Đông giáp hộ gia đình ông H dài 2,50 mét (được ký hiệu từ điểm B đến điểm 9);
    • + Hướng Tây giáp đường giao thông dài 2,42 mét (được ký hiệu từ điểm A đến điểm 7);
    • + Hướng Nam giáp đất nhà ông T10 dài 15,78 mét (được ký hiệu từ điểm 7 đến điểm 8, 9);
    • + Hướng Bắc giáp đất của ông T2 dài 15,44 mét (được ký hiệu từ điểm A đến điểm B);
    • Các tài sản trên diện tích đất trên, ông T2 phải có trách nhiệm tự tháo dỡ, di dời.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án cũng như quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 27/7/2023, nguyên đơn ông Vũ Huy H và bà Trần Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo như sau:

  • - Đề nghị Tòa án giám định chữ viết, chữ ký của ông H trong các tài liệu mà ông bà đã nộp gồm Đơn xin nhượng nhà ở + hoa màu ngày 23/12/1988; Giấy chuyển nhượng nhà ở và cây cối cùng thổ ở ngày 24/12/1991; Đơn xin trả đất đề ngày 24/12/1991; Biên bản kiểm tra xét chuyển dịch nhà đất lập này 19/01/1992; Biên bản bán nhà bên bán là Vũ Huy H, bên mua là Vũ Huy T2 không đề ngày tháng năm.
  • - Đề nghị Tòa án thu thập bản gốc Đơn xin trả đất đề ngày 24/12/1991; Đơn xin nhượng nhà ở và hoa màu đề ngày 23/12/1988 có chữ ký người mua là ông Vũ Huy T2; Biên bản kiểm tra xét chuyển dịch nhà đất lập này 19/01/1992, bên mua Vũ Huy H, bên bán Vũ Huy T2; Biên bản bán nhà bên bán là Vũ Huy H, bên mua là Vũ Huy T2 không đề ngày tháng năm và giám định chữ ký của ông H tại các tài liệu trên.
  • - Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư Phạm Duy K - người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông H có mặt tại phiên tòa đưa ra phương án chia thửa đất số 162 tờ bản đồ số 3 theo bản đồ 299, diện tích 498m², theo đó phần đất của ông T2 vẫn nằm về phía Bắc thứa đất, trên diện tích nhà đã xây dựng hiện nay giáp thửa đất nhà ông T9 có chiều dài mặt đường khoảng 13m chạy dài đến cuối thửa đất cho đến khi đủ 280m². Phần đất còn lại sẽ thuộc quyền sử dụng của ông H, bà T. Nếu phía bị đơn chấp nhận, nguyên đơn xin rút yêu cầu kháng cáo của ông H, bà T về việc đòi lại ngôi nhà 5 gian bằng gỗ lớp rạ và không buộc ông T2 phải trả lại 38,6 m² ở đúng vị trí ngôi nhà gỗ năm gian trước đây.

Ông Vũ Huy T2 có ý kiến: Việc mua bán, chuyển nhượng đất đã có giấy tờ chuyển nhượng và ông đã sử dụng ổn định hơn 30 năm nay không có tranh chấp, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông nhất trí với bản án cấp sơ thẩm đã chia và không đồng ý với phương án đưa ra của phía nguyên đơn.

Ông Vũ Ngọc T4 – người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Vũ Thị V nhất trí với ý kiến trình bày của ông Vũ Huy T2 trình bày tại phiên toà.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng; các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông H, bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Vũ Huy H và bà Trần Thị T có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Ngày 09/12/2023 ông Vũ Huy H chết, căn cứ khoản 1 Điều 74 BLTTDS, khoản 1 Điều 651 BLDS Tòa án cấp phúc thẩm đưa những người thừa kế theo pháp luật của ông H tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông H. Tại giai đoạn phúc thẩm, bà Trần Thị T và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông H đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt, ủy quyền cho Công ty L5 chi nhánh L6 tham gia phiên tòa, bà Vũ Thị N, bà Vũ Thị T5 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do; bà Vũ Thị V là người có nhược điểm về tâm thần vắng mặt nhưng đại diện theo pháp luật là ông Vũ Huy T3 có mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 296 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[2] Về nội dung, xét đơn kháng cáo của ông Vũ Huy H và bà Trần Thị T, HĐXX thấy:

[2.1] Về nguồn gốc đất: Theo các tài liệu có trong vụ án, thửa đất theo bản đồ 299 là thửa số 162, tờ bản đồ số 03, diện tích 498m² tại thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình do bố mẹ ông Vũ Huy H để lại. Bố đẻ ông Vũ Huy H là cụ Vũ Huy T12 (đã chết ngày 23/5/1981 âm lịch), cụ T12 có 3 vợ, vợ cả là cụ Vũ Thị L3 (chết ngày 17/7/1981 âm lịch, không có con). Vợ hai là cụ Đỗ Thị K1 (chết ngày 14/4/1958 âm lịch) cụ K1 và cụ T12 có 01 người con là ông Vũ Huy H. Vợ ba là cụ Nguyễn Thị H2 (chết năm 2015). Cụ T12 và cụ H2 có 01 con chung là bà Vũ Thị L4, sinh năm 1950, thôn D, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Trước khi lấy cụ T12, cụ H2 có 01 người con riêng là bà Vũ Thị G, sinh năm 1944, thôn V, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Bố mẹ đẻ của cụ T12 và cụ L3 đều đã chết trước hai cụ.

Trước đây, chỉ có cụ L3 sống cùng cụ T12 tại ngôi nhà 5 gian của ông cha để lại cho đến khi cụ qua đời. Cụ K1 có đất ở riêng cách nhà cụ T12 khoảng 2-3 nhà, sau khi cụ K1 chết thì ông H về ở cùng cụ T12 và cụ L3. UBND xã C xác định: Bản đồ 299 mang tên ông H vì lúc này cả cụ L3 và cụ T12 đã chết năm 1981. Bản đồ 2007 mang tên cụ “Vũ Thị T8” (cụ H2) là do thời điểm này ông H không có mặt tại địa phương. Có việc tặng cho đất của cụ T8, cụ L3 cho ông H hay không địa phương không nắm được, tại địa phương không lưu giữ các giấy tờ liên quan đến việc tặng cho quyền sử dụng đất.

Cấp sơ thẩm đã không xác minh làm rõ nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp là của cụ T8, cụ L3, do đó đã không đưa bà Vũ Thị L4 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là còn thiếu sót. Tuy nhiên, tòa án cấp phúc thẩm đã làm việc với bà L4, bà L4 trình bày không nhận bất cứ tài sản, đất cát gì của cụ T8 và cụ L3 để lại, bà không liên quan gì đến việc giải quyết vụ án, do đó vi phạm nêu trên không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà L4 cũng như đường lối giải quyết vụ án.

[2.2] Tại giai đoạn phúc thẩm, ông Vũ Huy H và bà Trần Thị T cho rằng: Trong đơn xin nhượng nhà ở + hoa màu ngày 23/12/1988 có chữ ký người mua là ông Vũ T3 và Giấy chuyển nhượng nhà ở và cây cối cùng thổ ở ngày 24/12/1991, hai tài liệu này do ông T3 đưa cho ông H từ thời điểm nào ông H không nhớ. Khi nhận tài liệu từ ông T3, ông H không đọc lại và đem cất giữ vào tủ. Khi xảy ra tranh chấp ông H mới về tìm lại giấy và phát hiện nội dung 2 đơn trên do ông T3 viết là không đúng sự thật, không phải chữ viết và chữ ký của ông H. Thực tế ông H bán cho ông Vũ Huy T2 (là em trai ông T3) 280m² đất thổ cư của ông cha để lại, không đo cụ thể mà chỉ nói miệng với nhau là bán cho ông T2 một nửa đất trống đang sử dụng là vườn và sân về phía ao không có nhà cửa công trình gì, với giá 2.500.000 đồng, ông T2 đã giao đủ tiền cho ông H, không viết giấy biên nhận. Ông H không bán nhà đất cho ông T3 như nội dung đơn ông T3 viết. Chữ ký trong Biên bản kiểm tra xét chuyển dịch nhà đất lập này 19/01/1992, bên mua Vũ Huy H, bên bán Vũ Huy T2 và Biên bản bán nhà bên bán là Vũ Huy H, bên mua là Vũ Huy T2 không đề ngày tháng năm không phải chữ ký của ông H. HĐXX xét thấy, ông H đã được nhận và giữ các giấy tờ mua bán nhà đất trong thời gian suốt hơn 30 năm cho đến khi các bên xảy ra tranh chấp vào năm 2022 nhưng lại nói không đọc, không kiểm tra nội dung là không phù hợp với thực tế khách quan nên không có căn cứ chấp nhận.

[2.3] Theo ông T3 và ông T2 trình bày, sau khi gia đình ông T3 nhận chuyển nhượng đất của ông H các bên đã thỏa thuận tách một phần diện tích ở phía Bắc thửa đất giáp với nhà cụ Đỗ Văn T11 (nay là phần đất do ông Đỗ Văn T9 con trai cụ T11 quản lý) để làm ngõ đi vào phần đất còn lại nhà ông H. Lời trình bày này của ông T3 và ông T2 là có căn cứ vì tại thời điểm đo đạc bản đồ 299 năm 1984 chưa có phần ngõ đi này nhưng tại bản đồ đo đạc năm 2007 đã thể hiện ngõ đi thuộc phần đất của ông H trên bản đồ. Nếu ông H bán cho ông T3 phần diện tích đất nằm hoàn toàn ở phía Nam thửa đất như lời ông H trình bày thì việc tách đất làm ngõ đi là không cần thiết vì phần đất còn lại của ông H đã giáp với đường giao thông ở phía Tây thửa đất. Như vậy, lời trình bày của phía nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.

[2.4] Sau khi mua nhà đất của ông H, ông T2 về ở và sinh sống ổn định trên đất từ năm 1992. Đến năm 1999, do nhà cũ bị sập nên ông T2 đã dỡ nhà này để xây dựng nhà mới hiện nay đang sử dụng. Việc dỡ nhà cũ xây nhà mới ông H, bà T đều biết và không có ý kiến gì vì hàng năm ông H, bà T đều về quê. Mặt khác kể từ khi ông T2 xây dựng nhà mới đến nay không có tranh chấp, cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.

[2.5] Như vậy, với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định vào năm 1988 ông H có bán cho gia đình ông T2 280 m² đất và ngôi nhà ngói 05 gian lợp rạ cùng các công trình trên đất nên không cần thiết phải giám định chữ viết, chữ ký của ông H theo yêu cầu của phía nguyên đơn. Việc tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, bà T về yêu cầu ông T2 phải làm lại ngôi nhà gỗ 05 gian lợp rạ cho ông H, bà T và yêu cầu đòi diện tích đất 38,6m² ở nền ngôi nhà hiện nay ông T2 đang sử dụng là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đưa ra phương án chia thửa đất số 162 tờ bản đồ số 3 theo bản đồ 299, diện tích 498m², theo đó phần đất của ông T2 vẫn nằm về phía Bắc thứa đất, trên diện tích nhà đã xây dựng hiện nay giáp thửa đất nhà ông T9 có chiều dài mặt đường khoảng 13m chạy dài đến cuối thửa đất cho đến khi đủ 280m². Phần đất còn lại sẽ thuộc quyền sử dụng của ông H, bà T, HĐXX không có căn cứ chấp nhận phương án phía nguyên đơn đưa ra.

[3] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về chi phí tố tụng: Ông T2 phải trả cho nguyên đơn và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn số tiền 4.000.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, trả lại cho bà T số tiền 2.000.000 đồng (Bà T đã nhận lại 2.000.000 đồng).

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T2 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do nguyên đơn đều là người cao tuổi, nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ Huy H và bà Trần Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 147; Điều 156; Điều 157; Điều 158; Điều 164; Điều 165; Điều 166; Điều 235; Điều 271; Điều 273; Điều 579 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 100; Điều 203 Luật đất đai. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của ông H, bà T về yêu cầu ông T2 phải làm lại ngôi nhà gỗ 05 gian lợp rạ cho ông H, bà T và yêu cầu đòi diện tích đất 38,6m² ở nền ngôi nhà hiện nay ông T2 đang sử dụng.
  2. Xử Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H, bà T; buộc ông T2 phải trả lại ông H, bà T diện tích đất 38,6m² (phía Nam thửa đất của ông T2), ký hiệu S4, có các tứ cận như sau:
    • + Hướng Đông giáp hộ gia đình ông H dài 2,50 mét (được ký hiệu từ điểm B đến điểm 9);
    • + Hướng Tây giáp đường giao thông dài 2,42 mét (được ký hiệu từ điểm A đến điểm 7);
    • + Hướng Nam giáp đất nhà ông T10 dài 15,78 mét (được ký hiệu từ điểm 7 đến điểm 8, 9);
    • + Hướng Bắc giáp đất của ông T2 dài 15,44 mét (được ký hiệu từ điểm A đến điểm B);
    • Các tài sản trên diện tích đất trên, ông T2 phải có trách nhiệm tự tháo dỡ, di dời.
  3. Về chi phí tố tụng: Ông T2 phải trả cho bà T, anh L, chị Y, chị L1, anh T1 số tiền 4.000.000 đồng tiền xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Trả lại bà T số tiền 2.000.000 đồng (bà T đã nhận lại số tiền 2.000.000 đồng)
  4. Về án phí dân sơ thẩm: Ông T2 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho nguyên đơn là ông Vũ Huy H và bà Trần Thị T.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TA, VKS, THADS H. Hưng Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thế Tương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/DS-PT ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh đòi quyền sử dụng đất và tài sản trên đất

  • Số bản án: 32/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh đòi quyền sử dụng đất và tài sản trên đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Huy H - Vũ Huy T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger