Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q.HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/7/2024

V/v "Ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Thông
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùngbà Nguyễn Thị Minh Nguyệt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Cán bộ TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Trong ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự :

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu T, sinh năm 1996.
  • Địa chỉ: K H, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng
  • - Bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc D, sinh năm: 1994.
  • Địa chỉ: K Hải Phòng, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.
  • (Bà T có mặt, ông D vắng mặt lần thứ 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2024, Bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thu T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thu T kết hôn với ông Huỳnh Ngọc D vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau tại địa chỉ K Hải Phòng, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Quá trình chung sống, giữa bà và ông D xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, ông D thường xuyên uy hiếp bà và con, thường xuyên tụ tập với bạn bè, bỏ bê gia đình, vợ con. Ông D không có việc làm sử dụng trái phép chất ma túy nên bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở xã hội B nhiều lần. Mặc dù bà T cũng như gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần nhưng ông D không sửa đổi. Từ tháng 12/2023 đến nay, bà T đã đưa con về sống cùng cha mẹ ruột tại địa chỉ: K H, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng, ông D không cấp dưỡng nuôi con chung. Nay bà T không còn tình cảm với ông D nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc D.

+ Về con chung: Bà T xác định, trong thời kỳ hôn nhân bà và ông D có 01 con chung tên là Huỳnh Ngọc Mỹ D1, sinh ngày 01/01/2019. Ly hôn, bà T yêu cầu Tòa án giao con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung và nợ chung: bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là ông Huỳnh Ngọc D vắng mặt không có lý do về việc nên Tòa án không lấy được lời khai và hòa giải về nội dung có tranh chấp trong vụ án.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:

Thống nhất về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn, Đại diện Viện kiểm sát xác định, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn đúng quy định của pháp luật. Việc bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là không tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81,82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên xử:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thu T đối với ông Huỳnh Ngọc D.

+ Về con chung: Giao con chung là Huỳnh Ngọc Mỹ D1, sinh ngày 01/01/2019 cho bà Nguyễn Thu T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Ngọc D không cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Do nguyên đơn xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thu T có đơn khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con chung đối với ông Huỳnh Ngọc D. Bị đơn là ông Huỳnh Ngọc D có nơi cư trú trên địa bàn quận H, thành phố Đà Nẵng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn là ông Huỳnh Ngọc D. Tuy nhiên, ông D đều vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai và hòa giải về nội dung tranh chấp trong vụ án.

Tại phiên tòa, ông Huỳnh Ngọc D vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thu T kết hôn với nhau vào năm 2018, đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện cũng như thủ tục theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thu T vẫn cương quyết xin được ly hôn. Theo bà T, nguyên nhân mâu thuẫn là do bà và ông D tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Ông D thường xuyên tụ tập với bạn bè, sử dụng trái phép chất ma túy và đã nhiều lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc. Mặt khác, ông D còn thường xuyên uy hiếp bà và con. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên giải, bà T cũng đã tha thứ, khuyên can ông D nhiều lần nhưng ông D không sửa đổi. Từ tháng 12/2023 cho đến nay, bà T đã đưa con về sống cùng với cha mẹ ruột của bà T tại địa chỉ: K H, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Về phía ông Huỳnh Ngọc D, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ nhưng ông D đều vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa hôm nay, ông D tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không có lý do thể hiện ông D không có thiện chí và không mong muốn đoàn tụ gia đình với bà T.

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác minh về tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thu T và ông Huỳnh Ngọc D tại địa phương, qua Biên bản xác minh ngày 20/5/2024 thể hiện: “Bà Nguyễn Thu T và ông Huỳnh Ngọc D đăng ký kết hôn vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T. Quá trình chung sống tại địa phương thì giữa bà T và ông D có xảy ra mâu thuẫn hay không, tổ dân phố không biết. Hiện nay ông D cư trú tại địa chỉ K Hải Phòng, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng còn bà T không cư trú, sinh sống tại địa chỉ này. Nay bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc D thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật”

Xét thấy, lời trình bày của bà Nguyễn Thu T về tình trạng hôn nhân giữa bà và ông Huỳnh Ngọc D là có cơ sở, mâu thuẫn giữa hai người đã thật sự trầm trọng. Thực tế, bà T và ông D đã sống ly thân từ tháng 12/2023 cho đến nay. Do vậy, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thu T đối với ông Huỳnh Ngọc D.

[3.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thu T xác nhận có 01 con chung là: Huỳnh Ngọc Mỹ D1, sinh ngày 01/01/2019.

Ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nêu trên.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Khi giải quyết cho ly hôn thì việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho con chưa thành niên và xét nguyện vọng của con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Huỳnh Ngọc D đều vắng mặt và không thể hiện ý kiến, nguyện vọng về việc nuôi con chung. Theo bà T trình bày, kể từ khi bà T đưa con về nhà cha mẹ ruột sinh sống thì ông D không có đóng góp gì trong việc nuôi con. Như vậy, có cơ sở để xác định ông Huỳnh Ngọc D là người thiếu trách nhiệm với gia đình, vợ con. Về phía bà Nguyễn Thu T, có công việc, thu nhập ổn định có đầy đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Mặt khác, cháu Huỳnh Ngọc Mỹ D1 hiện đang sống ổn định cùng bà T, cháu D1 có giới tính nữ, còn nhỏ cần được sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp từ người mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là Huỳnh Ngọc M Duyên sinh ngày 01/01/2019 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Sau này vì quyền lợi của con chung chưa thành niên, các bên đương sự vẫn có quyền yêu cầu hoặc thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, các bên đương sự vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thu T xác định không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[4]. Về án phí: Án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Nguyễn Thu T phải chịu;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thu T đối với ông Huỳnh Ngọc D.

Xử :

  1. Về hôn nhân: Xử cho Nguyễn Thu T được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc D.
  2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thu T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Huỳnh Ngọc M Duyên sinh ngày 01/01/2019 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi).
  3. Ông Huỳnh Ngọc D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Sau này vì quyền lợi của con chung chưa thành niên, các bên đương sự vẫn có quyền yêu cầu hoặc thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, các bên đương sự vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết do đương sự không yêu cầu.
  5. Về án phí: Án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm Nguyễn Thu T phải chịu là 300.000 đồng; nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp tại biên lai thu số 0000085 ngày 22/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, Tp .. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhân:

  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND P. Thạch Thang
  • GCNKH số 94 ngày 29/8/2018;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Minh Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa bà Nguyễn Thu Thảo và ông Huỳnh Ngọc Duy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger