Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 15/5/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh

Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hải Yến và ông Trần Gia Phượng

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

Lê Trọng T; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 20/5/1987; Nơi sinh: Xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Lê Minh T1, sinh năm 1959 và bà Hà Thị B (đã chết); Mẹ kế: Chử Thị K, sinh năm 1964; Vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1987; Con: Có 02 con, sinh năm 2015 và 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/12/2023, hiện đang tại ngoại (có mặt).

Phùng Văn N; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 24/12/1975; Nơi sinh: Xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu D, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Phùng Văn Đ, sinh năm 1940 (đã chết) và bà Khổng Thị N1, sinh năm 1943; Vợ: Chử Thị N2, sinh năm 1979; Con: Có 02 con, sinh năm 1997 và 2000; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/12/2023, hiện đang tại ngoại (có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ1 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Anh Nguyễn Mạnh H1, SN 1971 (Con ông Đ1, vắng mặt).

Trú quán: Khu B, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Phùng Văn N, sinh năm 1975 ở khu 4 xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ đăng ký hoạt động kinh doanh vận tải hàng hoá đường bộ; mua bán vật liệu xây dựng, vật tư ngành điện nước và thiết bị vệ sinh, được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 18G8002147 ngày 28/02/2011, địa điểm kinh doanh tại khu 5 xã T, huyện L (Nay là khu D xã T, huyện L). Từ năm 2021 Lê Trọng T, sinh năm 1987 ở khu A, xã B, huyện L đến làm thuê cho anh N theo hợp đồng thời vụ thoả thuận bằng miệng, với nhiệm vụ bốc xếp và vận chuyển hàng cho khách khi có yêu cầu, với mức tiền công 7.000.000 đồng/tháng và nuôi cơm bữa trưa. Mặc dù biết xe công nông là loại phương tiện đã bị cấm hoạt động, nhưng do yêu cầu phục vụ hoạt động kinh doanh, nên khoảng cuối năm 2021 N đã mua lại của anh Phạm Văn N3, sinh năm 1983 ở khu H xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ chiếc xe công nông ba bánh tải thùng tự chế (Xe không có đồng hồ côngtơmét), nhãn hiệu Quan Chai 2S1130-2200R/Min 30HP do Trung Quốc sản xuất (Loại xe có một bánh phía trước), bên ngoài sơn màu xanh. N được biết trước đó T đã từng điều khiển thành thạo xe công nông khi làm thuê cho người khác, nên đã giao cho T xe công nông để vận chuyển hàng cho khách theo yêu cầu. Sáng ngày 17/10/2023 T đến cửa hàng vật liệu xây dựng của gia đình N để làm việc như thường ngày. Mặc dù, T và N đã biết xe công nông ba bánh tải thùng tự chế đã hỏng hệ thống đèn xi nhan nhưng N vẫn giao cho T điều khiển xe công nông ba bánh chở gạch vỡ từ Nhà văn hoá khu 10 xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ để chuyển đến đường nội đồng khu vực, phục vụ sửa chữa nâng cấp do đường lún theo hợp đồng. Sau khi hoàn thành công việc buổi sáng, khoảng 11 giờ cùng ngày, một mình T tiếp tục điều khiển xe đi tại phần đường bên phải với tốc độ khoảng 30 km/giờ để quay trở về cửa hàng vật liệu xây dựng của gia đình N nghỉ trưa. Khi đi đến đoạn Km 3+800 Tỉnh lộ 324B, thuộc khu D xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ, cách lối mở hướng vào bãi tập kết vật liệu xây dựng của cửa hàng khoảng 10-20m, T giảm tốc độ còn khoảng 5-10 km/giờ và quan sát qua gương chiếu hậu nhưng không phát hiện người hoặc phương tiện khác đang đi đến, nên bật công tắc đèn tín hiệu rồi điều khiển xe rẽ trái để vào bãi tập kết vật liệu và xác định hệ thống đèn xi-nhan đã hỏng từ trước và không có tín hiệu khác báo trước hướng rẽ trái. Lê Trọng T điều khiển xe chuyển hướng rẽ sang gần đến mép trái đường. Vừa lúc này ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1942 ở khu 2 xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ điều khiển xe gắn máy biển số 19AP-009.20 đi cùng chiều từ phía sau cũng vừa đi đến nơi, do T không quan sát thấy có xe gắn máy ông Đ1 đang điều khiển đi đến, không kịp xử lý, nên xe công nông ba bánh tải thùng ép xe máy vào bên trái đường, dẫn đến bên phải đầu xe gắn máy va chạm với cạnh ốp tai bên trái khu vực ca bin xe công nông ba bánh tải thùng tự chế, sau đó cả xe gắn máy và ông Đ1 ngã văng vào khu vực đầu lối mở hướng vào bãi tập kết vật liệu của cửa hàng vật liệu xây dựng của gia đình N. Ngay sau khi tai nạn xảy ra, xác định là giờ học sinh tan học về nên T điều khiển xe công nông ba bánh tải thùng tự chế vào đỗ tại bãi tập kết vật liệu xây dựng để tránh ùn tắc, chiếc xe gắn máy được anh Nguyễn Duy C, sinh năm 1965 ở khu 4 xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ là con rể ông Đ1 dựng lên tại vị trí; khi đó N đang ngồi trong cửa hàng thấy vậy cùng một số người chạy ra đưa ông Đ1 đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh P cấp cứu, nhưng do quá nặng xác định không qua khỏi, ngày 18/10/2023 gia đình ký bệnh án xin đưa về nhà riêng và đến 19 giờ ngày 21/10/2023 ông Đ1 tử vong.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 17/10/2023 thể hiện:

Hiện trường chung: Nơi xảy ra tại đoạn Km 3+800 Tỉnh lộ 324B, thuộc khu D xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Theo hướng từ phía Ủy ban nhân dân xã T đi Quốc lộ 32C tránh qua thành phố V, đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế; mặt đường rộng 6,5m được trải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng; giáp mép bên phải đường là hệ thống rãnh thoát nước có nắp đậy bằng bê tông rộng 0,9m; giáp mép bên trái là hệ thống rãnh thoát nước có nắp đậy bằng bê tông rộng 0,9m và có lối mở rộng 9,34m hướng vào khu vực bãi tập kết vật liệu xây dựng của hộ gia đình ông bà Nghĩa Đ2, lối mở được trải bê tông tương đối bằng phẳng.

Hiện trường cụ thể: Chọn cột điện số 4C ở bên trái đường và cách mép bên trái đường 5,21m làm vật chuẩn, lấy mép bên trái đường Tỉnh lộ 324B làm chuẩn. Kiểm tra phát hiện các vị trí, dấu vết như sau: Dấu vết số (1) là vết cày trượt đứt đoạn màu trắng đục trên mặt khu vực lối mở vào bãi tập kết vật liệu xây dựng của hộ gia đình ông bà Nghĩa Đ2, hướng từ phía Ủy ban nhân dân xã T đi Quốc lộ 32C tránh qua thành phố V chếch sang bên trái, dài 2,49m, chỗ rộng nhất 0,01, chỗ sâu nhất 0,002m; điểm đầu cách vật chuẩn 5,5m về phía đi Ủy ban nhân dân xã T và cách mép bên trái đường 1,33m; điểm cuối cách mép bên trái đường 2,38m. Dấu vết số (2) là vết cày trượt đứt đoạn màu trắng đục trên mặt nắp bê tông rãnh thoát nước bên trái đường và trên mặt khu vực lối mở vào bãi tập kết vật liệu xây dựng của hộ gia đình ông bà Nghĩa Đ2, hướng từ phía Ủy ban nhân dân xã T đi Quốc lộ 32C tránh qua thành phố V chếch sang bên trái, dài 3,56m, chỗ rộng nhất 0,02m, chỗ sâu nhất 0,03m; điểm đầu cách điểm đầu dấu vết số (1) về phía bãi tập kết vật liệu xây dựng của hộ gia đình ông bà Nghĩa Định 0,7m và cách mép bên trái đường 0,62m; điểm cuối cách mép bên trái đường 2,12m. Dấu vết số (3) là vết cày trượt đứt đoạn màu trắng đục trên mặt khu vực lối mở vào bãi tập kết vật liệu xây dựng của hộ gia đình ông bà Nghĩa Đ2, hướng từ phía Ủy ban nhân dân xã T đi Quốc lộ 32C tránh qua thành phố V chếch sang bên trái, dài 1,60m, chỗ rộng nhất 0,01m, chỗ sâu nhất 0,02m; điểm đầu cách điểm đầu dấu vết số (2) về phía đi Ủy ban nhân dân xã T 2,03m và cách mép bên trái đường 1,19m; điểm cuối cách mép bên trái đường 1,92m. Vị trí số (4) là xe máy biển số 19AP-009.20 đã được dựng đứng trên mặt nắp bê tông rãnh thoát nước bên trái đường và trên mặt khu vực lối mở vào bãi tập kết vật liệu xây dựng của hộ gia đình ông bà Nghĩa Đ2; đầu xe hướng ra phía lòng đường Tỉnh lộ 324B chếch về phía đi Quốc lộ C tránh qua thành phố V; đuôi xe hướng vào phía bãi tập kết vật liệu xây dựng của hộ gia đình ông bà Nghĩa Đ2 chếch về phía đi Ủy ban nhân dân xã T; trục bánh trước cách mép bên trái đường 0,8m; trục bánh sau cách điểm đầu dấu vết số (3) về phía đi Ủy ban nhân dân xã T 0,85m và cách mép bên trái đường 1,74m; nền khu vực gầm xe có vùng chất dịch màu nâu đen dài 0,6m, rộng 0,38m. Dấu vết số (5) là vùng chất dịch màu nâu đỏ đã khô loang trên mặt khu vực lối mở vào bãi tập kết vật liệu xây dựng của hộ gia đình ông bà Nghĩa Đ2; dài 0,42m, rộng 0,31m; tâm vùng chất dịch cách điểm cuối dấu vết số (1) về phía đi Ủy ban nhân dân xã T 2,05m và cách mép bên trái đường 3,89m. Vị trí số (6) là xe công nông ba bánh tải thùng tự chế, đang đỗ trên mặt lối đi vào bãi tập kết vật liệu xây dựng của hộ gia đình ông bà Nghĩa Đ2; đuôi xe hướng ra phía đường tỉnh lộ 324B; trục bánh sau bên phải cách trục bánh sau xe máy biển số 19AP-009.20 về phía đường tỉnh lộ 324B là 10,78m và cách mép bên trái đường 12,55m; trục bánh trước cách mép bên trái đường 14,92m.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 17/10/23 đối với 01 xe gắn máy biển số 19AP-009.20 và 01 xe công nông ba bánh tải thùng tự chế thể hiện:

Xe gắn máy biển số 19AP-009.20 có nhãn hiệu CUP JAPAN-CK050, số máy 139FMB701010, số khung B8UMDT701010, dung tích 49cm³, màu sơn xanh; chiều dài 185cm, rộng giữa hai đầu tay nắm lái 68cm, cao đến đầu tay nắm lái 97cm. Mặt ngoài má lốp bên trái bánh trước có vết trượt sát rải rác, bám bột màu xanh không rõ hướng, trên diện dài theo dây cung 33cm, điểm gần nhất cách mép vành 1cm và cách chân van về phía ngược chiều kim đồng hồ 9cm. Mặt ngoài khoảng 1/2 trên càng bánh trước bên trái có vết trượt sát bám bột màu xanh, hướng trước về sau trên diện kích thước 3cm x 6cm, điểm thấp nhất cách đầu dưới càng xe 15cm. Mặt ngoài ốp vai càng bên trái có nhiều vết trượt sát không rõ hướng, trên diện kích thước 7cm x 12cm. Góc trước bên trái giỏ đèo hàng phía trước đầu xe đẩy từ trước về sau, từ trái sang phải; mặt ngoài khung lưới giỏ có nhiều vết trượt sát, mài nhựa hướng trước về sau, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới trên diện kích thước 20cm x 16cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 75cm; giỏ đèo hàng cong vặn, móp méo. Mặt ngoài cánh yếm bên phải có vết trượt sát bán bột màu xanh-nâu, hướng trước về sau, trên diện kích thước 5,5cm x 12cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 57cm. Cụm đèn xi-nhan trước bên phải gãy rời, ốp nhựa trên và dưới đầu xe xung quanh cụm đèn xi-nhan vỡ. Mặt ngoài phía trước góc trên bên trái kính đèn xi-nhan trước bên trái có vết trượt sát mài nhựa, hướng trước về sau, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới kích thước 3,3cm x 1,5cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 98cm. Tay gương chiếu hậu bên trái xoay lỏng, gáo gương vỡ nứt, mặt gương tuột rời (Loại gương thời trang). Mặt ngoài góc trước đầu tay nắm lái bên trái có vết trượt sát nhựa bọc, hướng trước về sau, kích thước 2cm x 1cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 94,5cm. Các chốt bắt giữ mép sau ốp nhựa trên và dưới đầu xe bật hở. Bàn đạp chân phanh đẩy cong từ trước về sau, ép sát bàn để chân chính bên phải; đầu bàn để chân có vết trượt sát hướng trước về sau, kích thước 2cm x 2cm. Mặt ngoài nắp hộp cốp sườn bên phải có vết trượt sát nhựa, hướng trước về sau, từ trên xuống dưới trên diện kích thước 22cm x 10cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 51cm. Bàn để chân chính bên trái đẩy cong từ trước về sau, ép sát phía dưới cần chuyển số phía sau; bọc cao su bàn để chân trượt sát, rách hở đầu lõi thép kích thước 4cm x 3cm. Đầu lẫy gạt tăng giảm giảm xóc càng phía sau bên trái đứt gãy. Kiểm tra các vị trí khác không phát hiện dấu vết gì mới. Bật chìa khoá điện thấy đèn xi nhan báo hiệu bên phải; khởi động máy nổ gần, dấu hiệu kẹt dây ga, cụm tay ga xoay lỏng. Hệ thống đèn pha, đèn hậu, còi có hiệu lực; đèn xi nhan bên trái có hiệu lực, đèn xi nhan sau bên phải có hiệu lực, đèn xi nhan trước bên phải hư hỏng do tai nạn; hệ thống phanh trước và phanh sau có hiệu lực; hai bánh xe căng đủ hơi.

Xe công nông ba bánh tải thùng tự chế, sử dụng động cơ Diezen nhãn hiệu Quan Chai-2S1130-2200R/Min 30HP do Trung Quốc sản xuất (Loại xe có một bánh phía trước), xe không có biển số, bên ngoài sơn màu xanh; chiều dài 375cm, rộng 160cm, cao 210cm. Mặt ngoài ốp tai bên trái đầu xe có một số vết trượt sát, hướng sau về trước: Vết thứ nhất kích thước 7cm x 7cm cách mép trước 7cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 63cm. Vết thứ hai kích thước 9cm x 1,5cm sát mép trước, điểm thấp nhất cách mặt đất 86,5cm. Vết thứ ba kích thước 31cm x 3cm sát mép trước, điểm thấp nhất cách mặt đất 92cm. Mặt ngoài mép trái ốp mặt nạ phía trước cabin có vết trượt sát, hướng từ trái sang phải, từ trên xuống dưới trên diện kích thước 4cm x 33cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 82cm. Kiểm tra các vị trí khác không phát hiện dấu vết gì mới. Khởi động máy nổ, hệ thống đèn pha còi có hiệu lực; hệ thống đèn xi nhan và đèn gầm soi lùi không có hiệu lực; công tắc đèn xi nhan không có tại vị trí; hệ thống vô lăng lái có hiệu lực; hệ thống phanh có hiệu lực; các bánh xe căng đủ hơi; xe không có hệ thống đồng hồ đo tốc độ (Đồng hồ côngtơmét).

Ngày 12/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện L có công văn gửi cục Đ3 về việc xác minh phương tiện đối với xe công nông ba bánh tải thùng tự chế. Ngày 25/12/2023, Cục Đ3 trả lời: Loại phương tiện này có hình dáng tương tự với 01 trong 02 loại phương tiện xe ô tô và xe mô tô ba bánh. Phương tiện này không đáp ứng được điều kiện tham gia giao thông đường bộ.

Cơ quan CSĐT - Công an huyện L đề nghị Sở Giao thông vận tải tỉnh P cung cấp thông tin Giấy phép lái xe đối với Lê Trọng T và ông Nguyễn Văn Đ1.

Sở Giao thông vận tải tỉnh P đã có kết quả trả lời: Tại thời điểm kiểm tra, xác minh không có thông tin Giấy phép lái xe cơ giới đường bộ các hạng của ông Nguyễn Văn Đ1 và anh Lê Trọng T. Tuy nhiên xe công nông ba bánh tải thùng tự chế là phương tiện đã bị đình chỉ lưu hành nên việc T không có giấy phép lái xe thì không xem xét là tình tiết định khung hình phạt và cũng không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Phùng Văn N về tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông. Đối với ông Nguyễn Văn Đ1 điều khiển xe gắn máy có dung tích dưới 50cm³ nên theo quy định không bắt buộc phải có giấy phép lái xe.

Ngày 21/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L đã ra quyết định trưng cầu giám định số 140, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh P giám định nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông Nguyễn Văn Đ1?

Tại bản kết luận giám định tử thi số 1412/KLGĐTT-PC 09 ngày 03/11/2023 của Phòng K1 công an tỉnh P kết luận:

“1. Các kết quả chính:

* Kết quả khám nghiệm: Bên ngoài tử thi có các vết sây sát da, tụ máu vùng đầu mặt và hai tay. Gia đình kiên quyết từ chối giải phẫu tử thi.

* Kết quả hồ sơ bệnh án điều trị:

Chụp CLVT sọ não: Hình ảnh tụ máu dưới màng cứng bán cầu não hai bên, đè đẩy nhu mô não sang bên phải; ổ tụ máu nhu mô não thuỳ chẩm - đỉnh bên phải; chảy máu màng não rải rác hai bên bán cầu; tụ máu liềm não, mái lều tiểu não hai bên. Đường vỡ xương chẩm, thái dương phải lan vào xương bướm.

Điều trị và diễn biến: 12 giờ 46 phút ngày 17/10/2023, bệnh nhân vào viện tình trạng hôn mê sâu có an thần, thở qua ống NKQ; đồng tử 3mm, PXAS kém. Được chẩn đoán chấn thương sọ não nặng và điều trị tích cực. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, bệnh nhân hôn mê sâu, đã giải thích tình trạng nặng của bệnh nhân và gia đình xin bệnh nhân về.

2. Kết luận:

Do gia đình kiên quyết từ chối giải phẫu tử thi nên không đủ cơ sở để kết luận nguyên nhân chết của ông Nguyễn Văn Đ1, nhận định khả năng ông Nguyễn Văn Đ1 chết do chấn thương sọ não.”

Sau khi tai nạn xảy ra, Công an huyện L đã tiến hành đo kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở và xét nghiệm bằng test nhanh chất ma túy trong nước tiểu đối với Lê Trọng T, kết quả xác định: Trong hơi thở của Lê Trọng T không có nồng độ cồn (E), mẫu nước tiểu của Lê Trọng T âm tính với chất ma tuý.

Công an huyện L đề nghị Bệnh viện Đa khoa tỉnh P xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của ông Nguyễn Văn Đ1, kết quả tại Phiếu xét nghiệm ngày 17/10/2023 xác định: Nồng độ cồn trong máu của ông Nguyễn Văn Đ1 dưới ngưỡng đo.

Trong vụ án này, nhận thấy nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông là Lê Trọng T điều khiển xe công nông ba bánh tải thùng tự chế chuyển hướng không có tín hiệu báo hướng rẽ trái, dẫn đến chèn ép rồi va chạm với xe máy biển số 19AP-009.20 do ông Nguyễn Văn Đ1 điều khiển từ phía sau cùng chiều đi đến, hậu quả làm ông Đ1 bị thương phải đưa đi cấp cứu, sau đó tử vong do thương tích quá nặng.

Đối với Phùng Văn Nghĩa là chủ sở hữu đối với xe công nông ba bánh tải thùng tự chế. Đây là loại phương tiện đã bị đình chỉ lưu hành kể từ ngày 01/01/2008, theo Chỉ thị số 46/2004/CT-TTg ngày 09/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý xe công nông tham gia giao thông đường bộ và Nghị quyết số 32/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Mặc dù N nhận thức và biết rõ loại xe công nông ba bánh tải thùng tự chế là phương tiện đã bị cấm hoạt động, không được đăng ký lưu hành và kiểm định, nhưng chỉ vì có nhu cầu sử dụng phục vụ vận chuyển hàng cho khách trong quá trình hoạt động kinh doanh nên đã bất chấp quy định, vẫn mua lại để đưa phương tiện vào hoạt động trái phép và giao cho Lê Trọng T điều khiển trong thời gian dài từ năm 2021 đến nay, trong khi phương tiện không có đủ các bộ phận kỹ thuật đảm bảo an toàn theo quy định, không có hệ thống chuyển hướng có hiệu lực. Hậu quả dẫn đến ngày 17/10/2023 Lê Trọng T đã điều khiển phương tiện trên vi phạm quy định khi tham gia giao thông đường bộ, làm ông Nguyễn Văn Đ1 tử vong.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, các bị cáo Lê Trọng T, Phùng Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, phương tiện, lời khai của người làm chứng, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSLT, ngày 04/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ đã truy tố:

Bị cáo Lê Trọng T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Phùng Văn N về tội "Đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không đảm bảo an toàn” theo điểm a khoản 1 Điều 262 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố:

Bị cáo Lê Trọng T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Phùng Văn N về tội "Đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không đảm bảo an toàn” theo điểm a khoản 1 Điều 262 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị áp dụng điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Xử phạt bị cáo Lê Trọng T từ 24 đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 BLHS.

Đề nghị áp dụng điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 262 BLHS. Xử phạt bị cáo Phùng Văn N từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 Điều 262 BLHS.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Lê Trọng TPhùng Văn N đã bồi thường và hỗ trợ cho đại diện gia đình bị hại số tiền 68.000.000 đồng. Quá trình điều tra, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Xác nhận Cơ quan CSĐT - Công an huyện L đã trả lại cho anh Nguyễn Mạnh H1 (đại diện gia đình bị hại) 01 xe máy nhãn hiệu CUP JAPAN-CK050, biển số 19AP-009.20 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy biển số 19AP-009.20 mang tên ông Nguyễn Văn Đ1. Nay đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì về việc bồi thường, khắc phục sửa chữa nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tháo dỡ để bán thanh lý nộp ngân sách nhà nước chiếc xe công nông ba bánh tải thùng tự chế nhãn hiệu Quan Chai-ZS1130-2200R/Min 30 HP do Trung Quốc sản xuất, xe đã cũ, qua sử dụng.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có ý kiến: Nhất trí với nội dung và tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, đúng người, đúng tội. Các bị cáo đã thống nhất tự nguyện bồi thường đầy đủ cho đại diện gia đình bị hại số tiền 68.000.000 đồng. Trong đó bị cáo T bồi thường số tiền 33.000.000 đồng, bị cáo N bồi thường số tiền 35.000.000 đồng).

Không có ai có tranh luận gì thêm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được cải tạo, lao động ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Phùng Văn N mặc dù nhận thức và biết rõ xe công nông ba bánh tải thùng tự chế là phương tiện đã bị cấm hoạt động, không được đăng ký lưu hành và kiểm định, hệ thống đèn xi nhan của xe không có hiệu lực nhưng do nhu cầu phục vụ kinh doanh nên đã giao cho Lê Trọng T điều khiển tham gia giao thông đường bộ.

[2] Khoảng 11 giờ ngày 17/10/2023, tại km 03+800, tỉnh lộ 324B thuộc địa phận khu 4 xã T, huyện L, Lê Trọng T điều khiển xe công nông ba bánh tải thùng tự chế theo hướng từ phía Ủy ban nhân dân xã T đi quốc lộ 32C, tránh qua thành phố V và sau đó T chuyển hướng rẽ sang bên trái đường để rẽ vào lối mở bãi tập kết vật liệu xây dựng của gia đình Phùng Văn N nhưng do hệ thống đèn xi nhan đã bị hỏng nên không có tín hiệu đèn xi nhan rẽ trái, dẫn đến va chạm với xe gắn máy biển số 19AP-009.20 do ông Nguyễn Văn Đ1 điều khiển đi phía sau cùng chiều đi tới, hậu quả ông Nguyễn Văn Đ1 bị thương nặng được đi cấp cứu và sau đó tử vong.

Hành vi của Lê Trọng T đã vi phạm vào khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.

Hành vi của Phùng Văn N đã vi phạm vào khoản 4, Điều 8; điểm b, khoản 1, Điều 53 Luật giao thông đường bộ.

“Điều 15. Chuyển hướng xe

1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng ... và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

...”

“Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

...

4. Đưa xe cơ giới, xe máy chuyên dùng không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường tham gia giao thông đường bộ.

...”

“Điều 53. Điều kiện tham gia giao thông xe cơ giới

1. Xe ô tô đúng kiểu loại được phép tham gia giao thông phải bảo đảm các quy định về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường sau đây:

...

b) Có hệ thống chuyển hướng có hiệu lực;

2. Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh,... được phép tham gia giao thông phải đảm bảo các quy định về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, h, i và k khoản 1 Điều này.

...”

Hành vi nêu trên của Lê Trọng T đã vi phạm quy định của Nhà nước về tham gia giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác.

Hành vi nêu trên của Phùng Văn N đã vi phạm quy định của Nhà nước về việc điều động phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vào sử dụng không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác.

[3] Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

[4] Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Lê Trọng T đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Hành vi của Phùng Văn N đủ yếu tố cấu thành tội "Đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không đảm bảo an toàn” theo điểm a khoản 1 Điều 262 của Bộ luật hình sự.

[5] Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ, truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

Điều 262. Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không đảm bảo an toàn:

1. Người nào chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều đồng hoặc về tình trạng kỹ thuật mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng rõ ràng không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm chết người;

[6] Về lỗi, nguyên nhân, điều kiện phạm tội: Hành vi của bị cáo Tiến phạm loại tội nghiêm trọng, hành vi của bị cáo N phạm loại tội ít nghiêm trọng, nhưng đã xâm phạm đến tính mạng của ông Đ1 được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật, tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội. Xong khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[7] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều là người chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 68.000.000 đồng, quá trình điều tra đại diện hợp pháp gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, nhận tội, do vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra bị cáo N lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do vậy được hưởng thêm 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo được đại diện gia đình bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo N có bố đẻ là Phùng Văn Đ được Nhà nước tặng thưởng Huân, huy chương các loại, bị cáo có giấy khen hộ gia đình kinh doanh giỏi. Bị cáo T có ông nội là Lê Văn Á được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến, do vậy các bị cáo được hưởng thêm 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[8] Thấy rằng các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Từ những tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú cũng đủ để các bị cáo cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[9] Về hình phạt bổ sung:

Tại khoản 5 điều 260 BLHS và khoản 4 điều 262 BLHS cùng quy định: "Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm".

Thấy rằng các bị cáo không hành nghề liên quan đến hành vi phạm tội nên không cần thiết phạt bổ sung.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra người đại diện hợp pháp cho bị hại xác nhận đã nhận đủ số tiền bồi thường, mai táng phí là 68.000.000 đồng, nay không yêu cầu bồi thường gì khác, có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo cần chấp nhận.

[11] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Mạnh H1 (đại diện gia đình bị hại) 01 xe máy nhãn hiệu CUP JAPAN-CK050, biển số 19AP-009.20 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy biển số 19AP-009.20 mang tên ông Nguyễn Văn Đ1. Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì về việc bồi thường, khắc phục sửa chữa nên không xem xét.

Đối với 01 chiếc xe công nông ba bánh tải thùng tự chế nhãn hiệu Quan Chai-ZS1130-2200R/Min 30 HP do Trung Quốc sản xuất, xe đã cũ, qua sử dụng. Thấy rằng đây là phương tiện vận tải bị cấm lưu hành. Do vậy cần tịch thu, tháo dỡ và bán thanh lý để nộp ngân sách nhà nước.

Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan CSĐT - Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quan điểm của Kiểm sát viên về đề nghị áp dụng điều luật, về hình phạt, về xác nhận trách nhiệm bồi thường dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt Lê Trọng T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ các điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 262 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn N phạm tội "Đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không đảm bảo an toàn”.

Xử phạt Phùng Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Trọng T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Phùng Văn N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự;

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 37/2024/HSST-LC, ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ đối với Lê Trọng T.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 38/2024/HSST-LC, ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ đối với Phùng Văn N.

Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 48 BLHS, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

Xác nhận các bị cáo tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình bị hại, anh Nguyễn Mạnh H1 đã nhận số tiền 68.000.000₫ (Sáu mươi tám triệu đồng). Trong đó: Lê Trọng T bồi thường số tiền 33.000.000 đồng, Phùng Văn N bồi thường số tiền 35.000.000 đồng.

Xác nhận Cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh Nguyễn Mạnh H1 (đại diện gia đình bị hại) 01 xe máy nhãn hiệu CUP JAPAN-CK050, biển số 19AP-009.20 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy biển số 19AP-009.20 mang tên ông Nguyễn Văn Đ1. Nay đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì về việc bồi thường, khắc phục sửa chữa.

Tịch thu tháo dỡ để bán thanh lý nộp ngân sách nhà nước chiếc xe công nông ba bánh tải thùng tự chế nhãn hiệu Quan Chai-ZS1130-2200R/Min 30 HP do Trung Quốc sản xuất, xe đã cũ, qua sử dụng. Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/5/2024.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc Lê Trọng TPhùng Văn N mỗi người phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện + tỉnh;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện;
  • - Chi cục THADS; THAHS;
  • - Bị cáo; Người TGTT khác;
  • - Lưu HS, VP (10b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không đảm bảo an toàn

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và tội Đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không đảm bảo an toàn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Trọng Tiến và Phùng Văn Nghĩa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger