Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15 tháng 4 năm 2024

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tuấn Kiệt

Bà Khưu Liên Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Như - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 531/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Kim P, sinh năm 1978; địa chỉ: Số C, Khóm C, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Anh Trương Hữu T, sinh năm 1970; địa chỉ: Số C, Khóm Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị P và anh T có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thạch Thị Kim P trình bày:

Về hôn nhân: Chị P và anh T tự nguyện chung sống, có đám cưới theo phong tục vào năm 1999, ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 07/8/1999 tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống vợ chồng lúc đầu rất hạnh phúc nhưng về sau, cả hai có sự mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, mâu thuẫn về tiền bạc nên thường xuyên cự cãi nhau và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không hàn gắn được. Chị P và anh T đã ly thân 4-5 tháng nay. Từ đó tình cảm của chị P đối với anh T không còn nữa, chị P cảm thấy cuộc hôn nhân với anh T không hạnh phúc, chị P yêu cầu được ly hôn với anh Trương Hữu T.

Về con chung: Quá trình chung sống chị P và anh T có 02 con chung là cháu Trương Nhựt P1, sinh ngày 23/10/2000 và cháu Trương Kim N, sinh ngày 23/8/2002, hiện nay con chung đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trương Hữu T có ý kiến trình bày:

Về hôn nhân: Anh T và chị P kết hôn năm 1999 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ngày 07/8/1999, hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống anh T với chị P có mâu thuẫn nhưng không đáng kể, anh T và chị P không có ly thân. Nay anh T xác định vẫn còn tình cảm với chị P, anh T không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống anh T thừa nhận giữa anh và chị P có 02 con chung là cháu Trương Nhựt P1, sinh ngày 23/10/2000 và cháu Trương Kim N, sinh ngày 23/8/2002, hiện nay cả 02 con chung đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần. Anh T không đồng ý ly hôn nên không có ý kiến về con chung.

Về tài sản chung: Anh Trương Hữu T không yêu cầu chia tài sản chung nhưng anh T yêu cầu chị P chi trả phần công sức đóng góp trong quá trình chung sống với chị P từ trước đến nay. Tuy nhiên anh T không yêu cầu số tiền nào cụ thể chỉ yêu cầu giải quyết công bằng cho anh T.

Về nợ chung xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Thạch Thị Kim P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị yêu cầu và kiên quyết ly hôn với anh T; con chung đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung và nợ chung xác định không có, không yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh Trương Hữu T không đồng ý với yêu cầu của chị P: Anh T không đồng ý ly hôn và muốn hàn gắn; đồng ý có hai con chung đã trưởng thành; thông nhất không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, anh T xác định không làm thủ tục khởi kiện phản tố mà chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu chị P chi trả phần công sức đóng góp trong quá trình chung sống với chị P từ trước đến nay nhưng anh không xác định số tiền hay tài sản nào cụ thể. Anh T cũng xác định không yêu cầu chia tài sản chung. Chị P không đồng ý với ý kiến anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo thủ tục tố tụng và các văn bản có liên quan nên về hình thức tố tụng Viện kiểm sát xét thấy bảo đảm đủ điều kiện và hợp pháp. Đương sự chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, chị P và anh T chung sống có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã mâu thuẫn, không hàn gắn được nay chị P kiên quyết ly hôn, không mong muốn sống cùng anh T nữa; anh T không có biện pháp hàn gắn nên hôn nhân đã trầm trọng nên chấp nhận cho chị P ly hôn với anh T. Về con chung, cả 02 con chung đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên không giải quyết về nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung đều không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Chị Thạch Thị Kim P yêu cầu ly hôn với anh Trương Hữu T, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trương Hữu T cư trú tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị Kim P.

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh T tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 1999, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 30 quyển số 01, ngày 07/8/1999 nên quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Chị P xác định cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi nhau và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, chị và anh T đã ly thân 4-5 tháng nay. Nay chị P xác định tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, không thể kéo dài, không hàn gắn được nên yêu cầu được ly hôn với anh T. Bị đơn anh T xác định không thống nhất ý kiến chị P, anh thấy mâu thuẫn hôn nhân không lớn, cãi nhau lặt vặt trong gia đình, anh T và chị P không có ly thân như chị P trình bày. Nay anh T còn tình cảm với vợ nên không muốn ly hôn, anh T muốn hàn gắn với chị P. Hội đồng xét xử xét thấy chị P đã kiên quyết ly hôn, không muốn hàn gắn và tại phiên tòa anh T cũng không đưa ra được biện pháp hàn gắn hôn nhân nên tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh T đã trầm trọng, không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận cho chị Thạch Thị Kim P ly hôn với anh Trương Hữu T.

[2.2] Về con chung: chị P và anh T thống nhất xác định có hai người con chung là cháu Trương Nhựt P1, sinh ngày 23/10/2000 và cháu Trương Kim N, sinh ngày 23/8/2002, con chung vẫn sống chung với chị P. Hiện tại cả hai con chung đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần nên không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Chị P và anh T thống nhất xác định không yêu cầu giải quyết về tài sản chung. Vào ngày 01/02/2024 anh T có ý kiến yêu cầu chị P chi trả phần công sức đóng góp trong quá trình chung sống với chị P từ trước đến nay. Tuy nhiên anh T không yêu cầu số tiền nào cụ thể chỉ yêu cầu giải quyết công bằng cho anh T. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để anh T thực hiện quyền yêu cầu của anh, nhưng anh không thực hiện. Tại phiên tòa anh T cũng xác định không làm thủ tục khởi kiện về chia tài sản chung, không yêu cầu tài sản nào cụ thể.

Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố Tụng dân sự quy định “...Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.”; Khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố Tụng dân sự quy định “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.” và Điều 202 Bộ luật Tố Tụng dân sự quy định “Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn”. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết đối với yêu cầu về tài sản của anh Trương Hữu T. Đương sự có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.

[2.4] Về nợ chung: Chị P và anh T thống nhất xác định không có nợ chung không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận toàn bộ.

[4] Về án phí: Chị Thạch Thị Kim P yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 200; khoản 2 Điều 201; Điều 202, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của Thạch Thị Kim P.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Thạch Thị Kim P ly hôn với anh Trương Hữu T .
  2. Về con chung: Cả hai con chung là cháu Trương Nhựt P1, sinh ngày 23/10/2000 và cháu Trương Kim N, sinh ngày 23/8/2002, đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết về nuôi dưỡng.
  3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: chị Thạch Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị P đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002729 ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Án sơ thẩm xử công khai, chị Thạch Thị Kim P và anh Trương Hữu T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận cho chị Phượng ly hôn với anh Thọ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger