TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/DS-ST Ngày: 14/6/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trưởng
Ông Lê Văn Qui
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024, các Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2024/QÐST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024 và số 78/2024/QÐST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K; Địa chỉ: Số D đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức danh Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V, chức danh Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần K. Người đại diện tham gia tố tụng (nhận ủy quyền lại): Ông Nguyễn Hòa H, chức danh Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng thương mại cổ phần K (có mặt).
- Bị đơn: Bà Trần Phạm Hồng X, sinh năm 1976; Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K (gọi tắt là Ngân hàng), người đại diện tham gia tố tụng ông Nguyễn Hòa H trình bày: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Trần Phạm Hồng X trả nợ, cụ thể như sau: Vào ngày 06/01/2020, bị đơn có ký kết mở thẻ tín dụng JCB tại Ngân hàng theo giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 003/20/TC/0901-04550 với nội dung hạn mức đề xuất 30.000.000 đồng, lãi suất vay 22%/năm, ngoài ra các bên còn thỏa thuận phí phạt chậm trả và phí phạt vượt hạn mức, phương thức trả nợ theo quy định của Ngân hàng về sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế, thời hạn vay 36 tháng.
Tính đến ngày 14/6/2024, bà Trần Phạm Hồng X còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 40.177.955 đồng, trong đó nợ gốc 22.115.896 đồng, lãi phát sinh 10.763.651 đồng, phí phát sinh 5.027.220 đồng, phí phạt vượt hạn mức 2.271.188 đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà X trả toàn bộ các khoản nợ nêu trên và tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Trần Phạm Hồng X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ phát biểu quan điểm: Về tố tụng, quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Về nội dung, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Trần Phạm Hồng X trả cho nguyên đơn tổng cộng đến ngày 14/6/2024 là 40.177.955 đồng, trong đó nợ gốc 22.115.896 đồng, lãi phát sinh 10.763.651 đồng, phí phát sinh 5.027.220 đồng, phí phạt vượt hạn mức 2.271.188 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ. Về án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Phạm Hồng X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn Trần Phạm Hồng X.
[3] Về nội dung:
[3.1] Xét giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 ngày 06/01/2020 thể hiện Ngân hàng đồng ý cấp thẻ với hạn mức tín dụng 30.000.000 đồng cho bị đơn bà X. Hợp đồng trên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, quá trình vay vốn bà X có trả một phần vốn gốc. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn bà X trả nợ gốc tính đến ngày 14/6/2024 với số tiền 22.115.896 đồng là có căn cứ.
[3.2] Về lãi suất, phí phạt: Theo thỏa thuận của các bên đã ký kết trong giao dịch tín dụng nêu trên thì lãi suất tại thời điểm cho vay là 22%/năm, phí phạt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm “Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết...”. Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà X trả lãi phát sinh tạm tính đến ngày 14/6/2024 là 10.763.651 đồng, phí phát sinh 5.027.220 đồng, phí phạt vượt hạn mức 2.271.188 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ.
[4] Từ những phân tích nêu trên, buộc bà Trần Phạm Hồng X phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng cộng đến ngày 14/6/2024 là 40.177.955 đồng, trong đó nợ gốc 22.115.896 đồng, lãi phát sinh 10.763.651 đồng, phí phát sinh 5.027.220 đồng, phí phạt vượt hạn mức 2.271.188 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ.
[5] Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Trần Phạm Hồng X phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K khởi kiện bà Trần Phạm Hồng X về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc bị đơn bà Trần Phạm Hồng X có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K tổng số tiền tính đến ngày 14/6/2024 là 40.177.955 đồng (Bốn mươi triệu, một trăm bảy mươi bảy nghìn, chín trăm năm mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc là 22.115.896 đồng (Hai mươi hai triệu, một trăm mười lăm nghìn, tám trăm chín mươi sáu đồng), lãi phát sinh là 10.763.651 đồng (Mười triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, sáu trăm năm mươi mốt đồng), phí phát sinh 5.027.220 đồng (Năm triệu, không trăm hai mươi bảy nghìn, hai trăm hai mươi đồng), phí phạt vượt hạn mức 2.271.188 đồng (Hai triệu, hai trăm bảy mươi mốt nghìn, một trăm tám mươi tám đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15/6/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Trần Phạm Hồng X phải nộp số tiền 2.008.897 đồng (Hai triệu, không trăm lẻ tám nghìn, tám trăm chín mươi bảy đồng).
Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K (có người đại diện ủy quyền là ông Nguyễn Hòa H) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 786.970 đồng (Bảy trăm tám mươi sáu nghìn, chín trăm bảy mươi đồng) theo biên lai thu số 0007665 ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải chịu thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/6/2024). Bị đơn bà Trần Phạm Hồng X vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thanh Quyền |
Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 32/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
