|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày 14 tháng 6 năm 2024 "V/v Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Hồng Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Quang và ông Nguyễn Hữu Mùi
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Tuyết Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2024/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lý Thị Thanh T - Sinh năm 1992
Nơi cư trú: Khu H, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
* Bị đơn: Anh Hoàng Xuân L - Sinh năm 1990
Nơi cư trú: Khu C, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Chị T và anh L đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Lý Thị Thanh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, chị T trình bày nội dung và yêu cầu khởi kiện của mình như sau:
Chị và anh Hoàng Xuân L tự nguyện kết hôn với nhau ngày 13/01/2017, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng ở chung cùng mẹ đẻ chị tại khu H, xã Y, huyện Đ. Quá trình chung sống do anh L thường hay uống rượu rồi về nhà gây sự chửi bới chị, cuộc sống chung vợ chồng không hòa thuận hạnh phúc nên chị và anh L đã sống li thân nhau hơn 01 năm nay, tình cảm không còn vì vậy chị T yêu cầu được li hôn anh Hoàng Xuân L.
- Về con chung chị Lý Thị Thanh T trình bày chị và anh Hoàng Xuân L không có con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp chị Lý Thị Thanh T trình bày chị và anh Hoàng Xuân L không có nên không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Hoàng Xuân L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh L có lời khai trình bày về việc kết hôn, thời gian kết hôn, quá trình chung sống đúng như chị Lý Thị Thanh T đã trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung cùng mẹ đẻ chị T tại khu H, xã Y, huyện Đ. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn cho đến tháng 11/2023 chị T tự ý bỏ đi Hà Nội làm ăn và từ đó không quan tâm hỏi han gì đến anh nữa, vợ chồng đã sống li thân nhau từ tháng 7/2023. Nay chị T xin li hôn anh L không đồng ý mà mong muốn vợ chồng đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình.
- Về con chung anh Hoàng Xuân L trình bày anh và chị Lý Thị Thanh T không có con chung.
- Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp anh Hoàng Xuân L không yêu cầu giải quyết.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại điện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đã phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Xác định trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu li hôn của chị Lý Thị Thanh T. Các đương sự không có con chung nên không giải quyết. Về tài sản chung và các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án thông báo hợp lệ về phiên hòa giải nhưng bị đơn anh Hoàng Xuân L vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án. Các đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điểu 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân và yêu cầu của các đương sự: Chị Lý Thị Thanh T và anh Hoàng Xuân L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn do vậy là hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của chị T thì trong thời gian chung sống, do anh L thường uống rượu rồi gây sự chửi bới chị, cuộc sống không có hạnh phúc vì vậy vợ chồng đã li thân nhau hơn 01 năm nay, còn anh L cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn mà do chị T tự ý bỏ đi làm ăn không quan tâm hỏi han đến anh. Nay chị T yêu cầu li hôn, còn anh L không đồng ý li hôn mà mong muốn đoàn tụ, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ vào lời trình bày của cả hai bên và kết quả xác minh của Tòa án tại địa phương nơi chị T, anh L cư trú thì chị T và anh L đã li thân không còn sống chung hơn 01 năm nay. Như vậy có căn cứ để khẳng chị T và anh L đã không còn sống chung để thực hiện nghĩa vụ của vợ, chồng trong hôn nhân. Mặc dù anh L không đồng ý li hôn, tuy nhiên để có một hôn nhân hạnh phúc, bền vững thì phải xuất phát từ tình cảm tự nguyện và sự vun đắp của cả hai bên nhưng với chị T, anh L thì khi vợ chồng xảy ra bất đồng, cả hai lại không có những biện pháp tích cực để cùng nhau giải quyết làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt khó có khả năng hàn gắn, nếu cứ tiếp tục ràng buộc sẽ làm cho hôn nhân không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được do vậy yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ, không trái pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về con chung: Chị Lý Thị Thanh T và anh Hoàng Xuân L đều xác nhận không có con chung nên không giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Lý Thị Thanh T và anh Hoàng Xuân L đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5]. Về án phí: Nguyên đơn chị Lý Thị Thanh T phải chịu toàn bộ án phí li hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án. Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử: Cho chị Lý Thị Thanh T được li hôn anh Hoàng Xuân L.
- Về con chung không có nên không giải quyết
- Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác không yêu cầu nên không giải quyết.
- Về án phí: Chị Lý Thị Thanh T phải nộp 300.000.đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000.đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo “Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án” số 0002178 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà ( đã ký) Tạ Hồng Tuấn |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Lý Thị Thanh T li hôn anh Hoàng Xuân L
