TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày 14/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thắng.
- Ông Nguyễn Văn Thư.
- Ông Ngô Ánh Khôi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Tư Thình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 14/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Núi Thành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 27/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 03/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên Phan Như V, sinh ngày 20/12/1998 tại huyện N, tỉnh Quảng Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi thường trú: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Phan Như T, sinh năm 1966 và bà Lê Thị B, sinh năm 1966; Họ và tên vợ Trần Thị Hồng U, sinh năm 2005; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: ngày 16/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Núi Thành xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/05/2022, chấp hành xong nghĩa vụ dân sự ngày 11/11/2021.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
- Bị hại: Trần Thị Hồng U, sinh ngày 27/10/2005; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
- Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Văn H, sinh năm 1970 và bà Đinh Thị T1, sinh năm 1979 (Cha và mẹ ruột bị hại); Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào đầu năm 2020, Phan Như V làm chung quán nhậu tại khối C, thị trấn N, huyện N với Trần Thị Hồng U. Vào khoảng 19 giờ của một ngày trong tháng 02 năm 2020, sau khi hết giờ làm việc tại quán, V chở U về nhà chơi, ăn uống, xem phim. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày cả 02 cùng vào phòng ngủ của V tự nguyện quan hệ tình dục với nhau và V xuất tinh vào trong âm đạo của U. Sau khi quan hệ tình dục, U đi tắm rồi nằm ngủ với V đến sáng hôm sau thì V chở U xuống làm tại quán nhậu. Hai tháng sau, U thông báo cho V biết là đã có thai. Ngày 14/11/2020, U sinh một bé trai tại Bệnh viện Đ và đặt tên cho con là K nhưng chưa làm giấy khai sinh. Trong thời gian U sinh con thì V và gia đình thường xuyên thăm nom và bồi thường cho U số tiền 30.000.000 đồng.
Ngày 27/5/2022, sau khi chấp hành xong án phạt tù về tội cố ý gây thương tích, V đưa U về nhà chung sống như vợ chồng nhưng do U chưa đủ 18 tuổi nên hai người chưa đăng ký kết hôn. Đến ngày 22/4/2023, U sinh thêm một bé gái đặt tên là C. Ngày 30/10/2023, hai người đến bộ phận Tư pháp - Hộ tịch UBND xã Tam Mỹ Đông làm thủ tục đăng ký kết hôn. Đồng thời đăng ký khai sinh cho bé trai sinh vào ngày 14/11/2020 tên là Phan Như Đăng K1, bé gái sinh vào ngày 22/4/2023 tên là Phan Như Quỳnh C1. Khi làm thủ tục khai sinh, cán bộ Tư pháp - Hộ tịch xã Tam Mỹ Đông phát hiện tại thời điểm V quan hệ tình dục với U (tháng 02/2020) thì lúc đó U 14 tuổi 8 tháng, có dấu hiệu của tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” nên chuyển thông tin cho Công an tiếp nhận, thụ lý.
Tại Bản kết luận giám định số: 2563/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Phan Như Đăng K1 là con đẻ của Trần Thị Hồng U với Phan Như V. Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo Phan Như V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và đại diện hợp pháp không yêu cầu bồi thường và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKS-NT ngày 26/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành đã truy tố bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm d khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Như V phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội lần đầu; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng điểm d khoản 2 Điều 145; các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù;
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét;
Đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp cho người bị hại, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo: Bị cáo là người đã thành niên, đã giao cấu với bị hại Trần Thị Hồng U tại thời điểm bị hại mới được 14 tuổi 8 tháng làm bị hại có thai. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét tính chất vụ án và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bản thân bị cáo là người đã thành niên, đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bị hại để thực hiện hành vi giao cấu khi bị hại chưa đủ 16 tuổi làm bị hại có thai. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của bị hại. Khi bị xâm hại, bị hại còn hạn chế về kinh nghiệm sống, dễ bị rủ rê, dụ dỗ, thiếu sáng suốt trong quyết định, cho dù sự giao cấu có sự thuận tình của bị hại. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến danh dự nhân phẩm, gây ảnh hưởng xấu cho sự phát triển về tâm sinh lý và thể chất mà còn để lại hậu quả xấu cho nạn nhân về tương lai sau này. Hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, biết chấp hành pháp luật là có căn cứ nên chấp nhận phần đề nghị này.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[5.1] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho người bị hại. Tại phiên tòa, bị hại và đại diện hợp pháp xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện nuôi các con còn nhỏ, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có trách nhiệm với bị hại từ ngày có thai cho đến thời điểm hiện nay, đã đăng ký kết hôn, sinh thêm một con nữa. Hiện tại bị cáo và bị hại đã là vợ chồng đang chung sống tại nhà cha mẹ bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và đại diện hợp pháp không yêu cầu bồi thường thêm.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 145; Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; Khoản 2 Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Phan Như V phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt bị cáo Phan Như V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại và đại diện hợp pháp không yêu cầu bồi thường thêm.
Về án phí:
Buộc bị cáo Phan Như V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Công Thắng |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM về hình sự (giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Như V
