Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13/6/2024

“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Như Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Giới.

Ông Nguyễn Văn Giới.

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Lan Anh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2024/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST - HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Thu T; nơi thường trú: thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: tổ A, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Lê Văn N; địa chỉ: thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Đinh Thị Thu T trình bày:

Về tình cảm: ngày 07 tháng 01 năm 2022, chị Đinh Thị Thu T tự nguyện đăng ký kết hôn với anh Lê Văn N tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2022, khi ly thân mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Mặc dù đã được hai bên gia đình can ngăn, hòa giải và hàn gắn nhưng không có kết quả. Đến nay chị Đinh Thị Thu T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng và không thể khắc phục được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn N để ổn định cuộc sống.

Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 01 con chung tên là Lê Khánh L, sinh ngày 22/12/2022. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có khoản nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai bị đơn anh Lê Văn N trình bày:

Về tình cảm: ngày 07 tháng 01 năm 2022, anh Lê Văn N tự nguyện đăng ký kết hôn với chị Đinh Thị Thu T tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Mặc dù đã được hai bên gia đình can ngăn, hòa giải và hàn gắn nhưng không có kết quả. Đến nay anh Lê Văn N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng và không thể khắc phục được, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đinh Thị Thu T.

Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 01 con chung tên là Lê Khánh L, sinh ngày 22/12/2022. Khi ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có khoản nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh tại địa phương ngày 21/02/2024 như sau:

Ông Lê Văn B (bố đẻ anh Lê Văn N) cho biết: Anh Lê Văn N và chị Đinh Thị Thu T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh năm 2022. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng trong cách sống, cách sinh hoạt dẫn đến cuộc sống chung vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không hạnh phúc. Sau khi sinh con nhỏ vào năm 2022 thì chị T về nhà bố mẹ đẻ ở thành phố U, tỉnh Quảng Ninh để sinh sống. Chị T và anh N đã ly thân từ cuối năm 2022, khi ly thân mỗi người sống một nơi. Gia đình đã tiến hành động viên, hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện anh N đang làm ở thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh N và chị T có 01 con chung là Lê Khánh L, sinh ngày 22/12/2022. Hiện nay, cháu L đang sinh sống cùng với mẹ. Anh N và chị T không có tài sản chung và không có nợ chung. Nay chị T làm đơn khởi kiện xin ly hôn thì đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bà Trần Thị M (trưởng thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh) có ý kiến: do chị T và anh N không tiến hành hòa giải tại địa phương nên địa phương không nắm rõ được mâu thuẫn của anh chị. Bà đồng ý với phần trình bày của ông Lê Văn B (bố đẻ anh Lê Văn N) và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản làm việc ngày 30/5/2024, bà Vũ Thúy T1 (mẹ đẻ chị Đinh Thị Thu T) cung cấp thông tin: chị T là con gái ruột của bà. Chị T và anh N đăng ký kết hôn với nhau năm 2022, sau khi kết hôn về chung sống tại thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn bà được chị T kể lại do anh Lê Văn N đánh, chửi bới và đuổi chị T về nhà. Từ cuối năm 2022, chị T và cháu Lê Khánh L (con đẻ của chị T và anh N) chuyển về sống cùng gia đình bà tại địa chỉ tổ A, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh cho đến nay. Hiện nay, chị T đang làm công việc tự do cùng gia đình bà, bản thân chị T đủ điều kiện để nuôi con, bà chỉ hỗ trợ chị T trong việc chăm con. Từ ngày chị T chuyển về gia đình bà sinh sống, anh N không qua lại thăm nom con và cũng không cấp dưỡng tiền nuôi con. Nay chị T làm đơn khởi kiện xin ly hôn với anh N, bà đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:

  • Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 196, 203 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn vắng mặt không có lý do tại các buổi hòa giải và phiên tòa, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Thị Thu T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về quan hệ tranh chấp: Chị Đinh Thị Thu T có đơn khởi kiện đề nghị được ly hôn với anh Lê Văn N. Bị đơn có nơi cư trú tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành tống đạt các tài liệu, quyết định tố tụng của Tòa án cho các đương sự; tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo đúng trình tự và thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Tuy nhiên, bị đơn không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, vắng mặt hai lần tại phiên tòa không có lý do. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn N và chị Đinh Thị Thu T đăng ký kết hôn với nhau ngày 07/01/2022 tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị về chung sống với nhau tại thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm, cuộc sống chung không hạnh phúc. Hiện nay, anh chị sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống riêng của ai. Sau khi ly thân, anh chị đã được hai bên gia đình nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Như vậy, thực tế cuộc hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích chung sống không đạt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu của chị Đinh Thị Thu T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn N có căn cứ pháp luật, cần chấp nhận.

[4]Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là Lê Khánh L, sinh ngày 22/12/2022, hiện đang ở cùng chị Định Thị Thu T. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Đinh Thị Thu T và anh Lê Văn N đều thể hiện nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lê Khánh L. Xét thấy cháu Lê Khánh L còn nhỏ, chưa đủ 36 (ba mươi sáu) tháng tuổi, từ khi cháu sinh ra đến nay đều do chị Đinh Thị Thu T nuôi dưỡng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng của chị Đinh Thị Thu T có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.

[5]Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

[6]Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị Thu T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Thị Thu T.

  1. Về tình cảm: Chị Đinh Thị Thu T được ly hôn với anh Lê Văn N.
  2. Về con chung: Chị Đinh Thị Thu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Lê Khánh L, sinh ngày 22/12/2022 kể từ tháng 6 năm 2024 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Lê Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lê Văn N có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật. Chị Đinh Thị Thu T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Lê Văn N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
  3. Về án phí: Chị Đinh Thị Thu T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003452 ngày 05/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Chị Đinh Thị Thu T đã nộp đủ tiền án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: chị Đinh Thị Thu T và anh Lê Văn N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - UBND xã Hồng Thái Đông;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Thị Thu Th - Lê Văn Ng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger