Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN THẠNH

TỈNH LONG AN

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 13-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Văn Hoàng
    • Ông Nguyễn Vĩnh Lâm
  • Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa:

Ông Trần Văn Tý – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2023/HSST ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Cao Văn N; Sinh ngày: 01/01/1983; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con của ông Cao Văn N1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1965; Vợ: Võ Thị Thu N2, sinh năm 1986; Con: Cao Bảo K, sinh năm 2008; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Lê Trọng Đ; Sinh ngày: 06/11/1969; Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: B D, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con của ông Lê Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Vợ: Hồ Thị T1, sinh năm 1975 (đã chết); Con: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 04/8/1988, bị Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, đã được xoá án tích; Ngày 08/8/1995, bị Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, đã được xoá án tích; Ngày 18/8/2004, bị Toà án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xoá án tích; Ngày 21/5/2011, bị Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xoá án tích; Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 23/02/2024, chuyển tạm giam kể từ ngày 25/02/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  • + Ông Võ Văn T2, sinh năm: 1983 và bà Phùng Thị Đ1, sinh năm: 1987; Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Long An (Có mặt).
  • + Anh Nguyễn Đức H, sinh năm: 1990 và chị Nguyễn Thị Hoàng A, sinh năm: 1990; Nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Trương Hoàng S; Sinh ngày: 29/02/1989; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: G11/27, ấp G, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Hiện đang chấp hành án tại Trại giam P1 đóng tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • + Nguyễn Kim H1; Sinh ngày: 12/4/1991; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số A, tổ A, khu phố F, phường I, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: G13/43D, tổ A, ấp G, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đóng tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 10/2022, Trương Hoàng S, Cao Văn N thống nhất cùng nhau đi trộm cắp tài sản là xe ba gác máy để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 21 giờ ngày 15/10/2022, Trương Hoàng S và Cao Văn N chuẩn bị 01 kiềm cộng lực, thống nhất cùng nhau đi tìm tài sản là xe ba gác máy. Sau đó, S điều khiển xe môtô nhãn hiệu SUZUKI, số loại RAIDER, màu sơn: đen, biển số 59N3-226.31 của S chở N ngồi phía sau lưu thông từ nhà trọ của S ở Ấp G, xã L, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh về hướng huyện T, tỉnh Long An để tìm tài sản trộm cắp. Khoảng 02 giờ sáng ngày 16/10/2022, khi điều khiển xe mô tô lưu thông ngang nhà ông Võ Văn T2, tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Long An, S và N phát hiện 01 xe ba gác máy, nhãn hiệu LONCIN, màu sơn: trắng, mang biển số 63B9-851.23 của ông T2 đang đậu trên sân nhà, không có người trông giữ. N dùng kìm cộng lực cắt ổ khóa số nhãn hiệu “VUONG NIEM” đang khóa cửa rào, S và N lén lút đẩy xe ba gác máy ra đường T, N điều khiển xe ba gác máy vừa trộm được đem về chợ đầu mối H, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho 01 người đàn ông tên Đ2 (không rõ nhân thân, lai lịch), với giá 7.000.000 đồng. Sau đó, N chia cho S số tiền 3.500.000 đồng, N còn lại số tiền 3.500.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐG ngày 04/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T. Kết luận: 01 xe ba gác máy, biển số 63B9-851.23 có giá trị 6.000.000 đồng.

Đến ngày 02/4/2023, Trương Hoàng S, Cao Văn N tiếp tục cùng Nguyễn Kim H1, Lê Trọng Đ thống nhất cùng nhau đi trộm cắp tài sản là xe ba gác máy để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân. Vào khoảng 18 giờ 30 ngày 02/4/2023, S điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Suzuki, số loại Raider, biển số 59N3-226.31 của S, chở N ngồi phía sau, H1 điều khiển xe mô tô hiệu Wave, màu xanh (không rõ biển số) của Đ chở Đ ngồi phía sau lưu thông từ nhà trọ của S ở Ấp G, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh về hướng huyện T, tỉnh Long An để tìm tài sản trộm cắp. Khi điều khiển xe mô tô lưu thông ngang nhà anh Nguyễn Đức H, tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An, N, H1, S, Đ phát hiện 02 chiếc xe ba gác máy của anh H đang đậu cặp hông hiên nhà, không người trông giữ. Lúc này, tất cả cùng dừng xe mô tô lại, Đ trèo qua hàng rào vào bên trong nhà dùng kiềm cộng lực cắt khóa cổng rào và mở cổng ra, N vào phụ Đ đẩy 02 xe ba gác Tỉnh lộ 837. Sau đó, H1 điều khiển xe ba gác gắn biển số 60Y2- 8679, trên xe có chở máy 01 máy đục bê tông hiệu KAIZEN, 02 máy mày góc cầm tay hiệu DCA ASM150A, màu xanh, N điều khiển xe ba gác gắn biển số 59Y2- 925.37 cùng lưu thông về hướng huyện T, tỉnh Long An. Sụm và Đ điều khiển 02 xe mô tô lưu thông phía sau. Đến khoảng 02 giờ 18 phút, cùng ngày tổ tuần tra Công an huyện T, tỉnh Long An dừng 02 phương tiện xe ba gác do H1, N điều khiển để tiến hành kiểm tra, do không có cơ sở xác định là tài sản do phạm pháp mà có nên sau khi kiểm tra xong, tổ tuần tra Công an huyện T, tỉnh Long An đã chụp ảnh phương tiện, giấy tờ tùy thân và cho H1, N điều khiển 02 phương tiện xe ba gác rời đi. Sau đó, H1 và N điều khiển 02 xe ba gác về nhà trọ của N ở Ấp G, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và đem bán 02 xe ba gác, 01 máy đục bê tông hiệu KAIZEN, 02 máy mày góc cầm tay bán cho một người đàn ông tên Đ2 (không rõ nhân thân, lai lịch) được số tiền 17.000.000 đồng. Sau đó, N chia cho H1, S, Đ mỗi người được số tiền 4.000.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG ngày 11/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T. Kết luận: 01 xe ba gác gắn biển số 59Y2- 925.37, hiệu YINXIANG màu xanh, dung tích xi lanh 175 cm3, có giá trị 11.250.000 đồng; 01 xe ba gác gắn biển số 60Y2- 8679, hiệu LONCIN, màu xanh, dung tích xi lanh 200 cm3, có giá trị 29.137.500 đồng; 01 máy đục bê tông hiệu KAIZEN, mẫu KZ-665 có giá trị 2.768.700 đồng; 02 máy mày góc cầm tay hiệu DCA ASM150A, màu xanh có giá trị 2.565.000 đồng. Tổng giá trị là 45.721.200 đồng.

Tại Bản Kết luận giám định số 563/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L. Kết luận: 06 file hình ảnh cần giám định được lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) không phát hiện cắt, ghép.

Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKSTT, ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo Cao Văn N, Lê Trọng Đ quy định “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Quách Văn T3 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản12 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo đồng thời phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm pháp luật mà các bị cáo Cao Văn N, Lê Trọng Đ gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Cao Văn N, Lê Trọng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Cao Văn N từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Trọng Đ từ 09 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng, về trách nhiệm dân sự, về hình phạt bổ sung kiểm sát viên không đề nghị.

Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Đức H, Nguyễn Thị Hoàng A trình bày sau khi đã được Tòa án xét xử vụ án đối với Trương Hoàng S, Nguyễn Kim H1 cho đến nay, án đã có hiệu lực nhưng S, H1 chưa có ai bồi thường cho anh H, chị Hoàng A. Trong thời gian điều tra vụ án đối với Lê Trọng Đ, Đ có bồi thường cho anh H số tiền là 5.000.000 đồng. Anh H và chị Hoàng A đề nghị Tòa án xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Lê Trọng Đ. Đối với Cao Văn N, anh H và chị Hoàng A đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật.

Ông Võ Văn T2 và bà Phùng Thị Đ1 trình bày sau khi Tòa án xét đối với Trương Hoàng S thì chị của S có thay mặt Sụm bồi thường cho ông T2, bà Đ1 số tiền 3.000.000 đồng. Từ đó đến nay cũng chưa có ai bồi thường thêm khoản nào. Đối với trách nhiệm hình sự của bị cáo Cao Văn N, ông T2, bà Đ1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Cao Văn N vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có văn bản trình bày ý kiến thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản 02 lần như Cáo trạng của và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi của mình. Bị cáo N đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo do bị cáo còn cha mẹ già, bị bệnh tai biến, bị cáo còn có con chưa thành niên.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo Lê Trọng Đ trình bày bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi của bản thân, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với xã hội, bị cáo sẽ cải tạo tốt thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
  2. Tại phiên tòa, bị cáo Cao Văn N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trương Hoàng S, Nguyễn Kim H1 vắng mặt nhưng được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa và tất cả đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290, Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Cao Văn N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Trương Hoàng S, Nguyễn Kim H1.
  3. Tại phiên tòa, bị cáo Lê Trọng Đ khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đối với bị cáo Cao Văn N vắng mặt nhưng có văn bản trình bày nội dung vụ việc, thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được như sau:

    Vào ngày 15/10/2022, Trương Hoàng S, Cao Văn N lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe ba gác máy, biển số 63B9-851.23 của ông Võ Văn T2, tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Long An, tài sản được Hội đồng định tài sản trong tố tụng hình sự kết luận có giá trị 6.000.000 đồng. Đến ngày 02/4/2023, Trương Hoàng S, Cao Văn N tiếp tục cùng với Nguyễn Kim H1, Lê Trọng Đ, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: 01 xe ba gác gắn biển số 59Y2- 925.37, 01 xe ba gác gắn biển số 60Y2- 8679, 01 máy đục bê tông hiệu KAIZEN, 02 máy mày góc cầm tay hiệu DCA ASM150A của anh Nguyễn Đức H và chị Nguyễn Thị Hoàng A tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Tài sản được được Hội đồng định tài sản trong tố tụng hình sự kết luận tổng trị giá tài sản là 45.721.200 đồng

    Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

    Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

  4. Các bị cáo cùng thống nhất ý chí, là đồng phạm trong thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, giữa bị cáo Cao Văn N và Trương Hoàng S khi thực hiện hành vi trộm tài sản của ông T2, bà Đ1 cũng như khi thực hiện hành vi trộm tài sản của anh H, chị Hoàng A cùng bị cáo Đ và Trương Hoàng S, Nguyễn Kim H1 đều không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ, phân công vai trò của từng bị cáo. Các lần phạm tội riêng lẻ nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Trong đó, bị cáo Cao Văn N phạm tội 02 lần với giá trị tài sản chiếm đoạt tổng cộng là 51.721.200 đồng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo Cao Văn N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Trọng Đ phạm tội 01 lần với giá trị tài sản chiếm đoạt tổng cộng là 45.721.200 đồng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo Lê Trọng Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

    Tại Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định như sau:

    “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

    Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Cao Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Trọng Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  5. Xét thấy các bị cáo không có ý chí lao động tạo thu nhập chính đáng, chỉ vì muốn mục đích tiêu xài cá nhân đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại để bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của các bị cáo không chỉ xâm phạm tài sản thuộc quyền quản lý, sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự địa phương, an toàn xã hội, gây bức xúc trong nhân dân. Trong tình hình hiện nay, tội phạm “Trộm cắp tài sản” nói riêng và các tội phạm nói chung có chiều hướng gia tăng. Hành vi của các bị cáo đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến phong trào đấu tranh, phòng chống tội phạm của địa phương. Do đó, hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” của các bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trên cơ sở xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo khi đồng phạm trong thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo.
    1. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự:

      Bị cáo Cao Văn N 02 lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, với giá trị tài sản chiếm đoạt tổng cộng là 51.721.200 đồng. Theo hướng dẫn Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính: Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu (ví dụ: nhiều lần phạm tội trộm cắp tài sản), mà tổng trị giá tài sản của các lần phạm tội thỏa mãn dấu hiệu định khung tăng nặng, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với trị giá tài sản chiếm đoạt, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

      Do đó, hành vi của Cao Văn N thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

      Bị cáo Lê Trọng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” 01 lần với giá trị tài sản chiếm đoạt tổng cộng là 45.721.200 đồng. Bị cáo Lê Trọng Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    2. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Trọng Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Cao Văn N vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến thừa nhận hành vi phạm tội và thể hiện sự ăn năn, hối hận về hành vi của mình. Do đó, các bị cáo được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

      Trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Trọng Đ đã bồi thường 5.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Đức H và Nguyễn Thị Hoàng A nên được được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

      Ngoài ra, xét thấy các bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, bị cáo N có cha mẹ là người cao tuổi. Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Đức H và Nguyễn Thị Hoàng A yêu cầu xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đ. Do đó, các bị cáo được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

    3. Về vị trí, vai trò của các bị cáo trong đồng phạm:

      Các bị cáo không có bàn bạc, câu kết chặt chẽ, phân công vai trò của từng người khi thực hiện hành vi phạm tội mà các bị cáo đều cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với vai trò là người thực hành.

    4. Về nhân thân:

      Bị cáo Cao Văn N chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, về nhân thân, bị cáo N đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố vụ án, khởi tố bị can số 39/QĐ-CSĐT ngày 05/02/2024 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

      Đối với bị cáo Lê Trọng Đ, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội được xem là không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án nhưng vẫn tiếp tục phạm tội: Ngày 04/8/1988, bị Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, đã được xoá án tích; Ngày 08/8/1995, bị Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, đã được xoá án tích; Ngày 18/8/2004, bị Toà án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xoá án tích; Ngày 21/5/2011, bị Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xoá án tích.

  6. Trên cơ sở những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và nhằm đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Đối với bị cáo Cao Văn N có 02 lần thực hiện hành vi phạm tội, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng lại có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Lê Trọng Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, hình phạt quyết định đối với bị cáo N cao hơn bị cáo Đ.
  7. Từ những phân tích trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng căn cứ pháp luật, về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  8. Về hình phạt bổ sung: theo quy định khoản 5 điều 173 BLHS, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
  9. Về vật chứng trong vụ án: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra có tạm giữ vật chứng nhưng tất cả các vật chứng đều đã được xem xét xử lý theo Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An (Bản án đã có hiệu lực pháp luật) nên không đề cập xử lý.
  10. Về trách nhiệm dân sự:
    1. Tài sản mà các bị hại bị chiếm đoạt không thu hồi được và đã được giải quyết bồi thường tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An (Bản án đã có hiệu lực pháp luật). Theo đó, bản án nêu trên buộc bị cáo Trương Hoàng S bồi thường cho bị hại Võ Văn T2 và Phùng Thị Đ1 số tiền là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng); buộc bị cáo Trương Hoàng S, Nguyễn Kim H1 liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức H và Nguyễn Thị Hoàng A số tiền là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). Trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Trọng Đ đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Đức H, chị Nguyễn Thị Hoàng A số tiền 5.000.000 đồng. Do đó, số tiền thiệt hại tài sản mà anh H và chị Hoàng A còn được bồi thường là 35.000.000 đồng. Bị hại Võ Văn T2 và Phùng Thị Đ1 được chị của Trương Hoàng S bồi thường thay cho S số tiền 3.000.000 đồng nên số tiền còn lại còn phải bồi thường tiếp là 12.000.000 đồng.

      Anh Nguyễn Đức H, chị Nguyễn Thị Hoàng A và ông Võ Văn T2, bà Phùng Thị Đ1 được quyền liên hệ cơ quan thi hành án dân sự để thực hiện thủ tục yêu cầu thi hành án đối với số tiền còn lại.

    2. Trương Hoàng S, Nguyễn Kim H1 còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường đối với số tiền còn lại theo bản án đã tuyên. Trong trường hợp Trương Hoàng S, Nguyễn Kim H1 thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường theo bản án đã tuyên thì có quyền yêu cầu các đồng phạm khác đã cùng thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” trong từng vụ hoàn trả lại số tiền tương ứng nghĩa vụ theo phần theo trình tự, thủ tục dân sự.
  11. Đối với Nguyễn Kim H1, Trương Hoàng S là đồng phạm cùng với N, Đ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã được kết án tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An nên không đề cập.
  12. Về án phí: Các bị cáo mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Cao Văn N, Lê Trọng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt chính:
    1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự;

      Xử phạt: bị cáo Cao Văn N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

    2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự;

      Xử phạt: bị cáo Lê Trọng Đ 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (23/02/2024).

  3. Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Trọng Đ 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (13/6/2024) để đảm bảo thi hành án.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Cao Văn N, Lê Trọng Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;

    Bị cáo Lê Trọng Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị cáo Cao Văn N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Các bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An
  • - VKSND huyện Tân Thạnh;
  • - Công an huyện Tân Thạnh;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Văn N, Lê Trọng Đ phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger