|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 9 - 2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Anh
- - Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sơn
- Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn.TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QÐST - HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy L, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Tổ E, phường M, quận N, TP .. Có mặt
- Bị đơn: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ E, phường M, quận N, TP .. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Duy L trình bày:
Ông Nguyễn Duy L và bà Hoàng Thị H kết hôn vào ngày 13/3/2002, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường B (nay là phường M), quận N, Thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Tổ E, phường M, quận N, TP .. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến đầu năm 2017 ông bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã dẫn đến lạnh nhạt tình cảm. Ông L xác định không còn tình cảm yêu thương bà H nữa, ông yêu cầu Toà án giải quyết cho được ly hôn với bà Hoàng Thị H.
Về con chung: Ông và bà H có 02 con chung là: Nguyễn Hoàng T, sinh ngày: 06/5/1995 và Nguyễn Thị Hoàng O, sinh ngày: 09/12/1999. Hiện nay cả 02 con đều đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có
* Bị đơn bà Hoàng Thị H vắng mặt có ý kiến thể hiện tại hồ sơ: Bà H có ý kiến do bà đang điều trị bệnh nên xin kéo dài thời gian xét xử để bà ổn định sức khỏe và giải quyết một số công việc liên quan của vợ chồng trước khi giải quyết ly hôn.
* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- * Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
- * Việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng về cơ bản Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS. Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền thụ lý vụ án, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS.
- Việc thu thập chứng cứ: Về cơ bản việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng Điều 95 BLTTDS.
- Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho VKS và người tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 170, 171, 177, 178, 203, 205, 210 BLTTDS.
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án thực hiện đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS.
Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện nguyên tắc xét xử, thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo đúng quy định tại chương II, chương XIV BLTTDS. Thư ký được phân công đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 51 BLTTDS.
Từ khi thụ lý cho đến thời điểm này, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS. Bị đơn không thực hiện đúng.
Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam; căn cứ Điều 35, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Duy L đối với bà Hoàng Thị H.
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Duy L được ly hôn bà Hoàng Thị H.
- - Về con chung: có 02 con chung là: Nguyễn Hoàng T, sinh ngày: 06/5/1995 và Nguyễn Thị Hoàng O, sinh ngày: 09/12/1999. Hiện nay cả 02 con đều đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không đề cập đến.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Do bà H vắng mặt nên không xác định được có hay không tài sản chung và nợ chung nên tách ra giải quyết khi các bên đương có yêu cầu.
Nguyên đơn phải chịu án phí theo qui định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết, tranh chấp ly hôn và nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Hoàng Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông.
[2] Về nội dung vụ án ông Nguyễn Duy L và bà Hoàng Thị H kết hôn với nhau vào năm 2002, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường B (nay là phường M), quận N, Thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Tổ E, phường M, quận N, TP .. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 ông bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau, không tin tưởng nhau về tình cảm cũng nhơ kinh tế trong gia đình dẫn đến vợ chồng lạnh nhạt tình cảm. Ông L xác định không còn tình cảm yêu thương bà H nữa, ông yêu cầu Toà án giải quyết cho được ly hôn với bà Hoàng Thị H.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của ông L thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng có niềm tin và tình yêu, sự thông cảm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng đến nay cả hai ông bà đã không còn giữ được điều này. Trong thời gian mâu thuẫn đến nay vợ chồng cũng không tìm được tiếng nói chung, cũng như không có giải pháp để cùng nhau dung hòa mâu thuẫn cải thiện lại quan hệ vợ chồng khi đã chấm dứt. Khi ông L nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để hòa giải nhưng bà H đều vắng mặt thể hiện ý thức ông không chấp hành pháp luật cũng như bỏ mặc việc níu kéo đối với chính cuộc hôn nhân của mình. Do đó thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thấy có níu kéo cũng không đem lại kết quả gì nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông L đối với bà H là phù hợp với điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Ông L và bà H có 02 con chung là: Nguyễn Hoàng T, sinh ngày: 06/5/1995 và Nguyễn Thị Hoàng O, sinh ngày: 09/12/1999. Hiện nay cả 02 con đều đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không đề cập đến.
[5] Về tài sản chung ông L không yêu cầu giải quyết và nợ chung ông L xác định không có, tuy nhiên tại phiên tòa do bà H vắng mặt nên không có cơ sở xác định vợ chồng có hay không tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không đề cập xem xét, tách ra sau này các đương sự nếu có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác.
[6] Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ, ông Nguyễn Duy L phải chịu khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0003323 ngày 26 tháng 6 năm 2024.
Xét đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227 BLTTDS.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn” của ông Nguyễn Duy L đối với bà Hoàng Thị H.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Duy L được ly hôn bà Hoàng Thị H (Giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01 ngày 13/3/2002 của UBND phường B (nay là Phường M), quận N, TP . không còn hiệu lực).
- Về quan hệ con chung: có 02 con chung là: Nguyễn Hoàng T, sinh ngày: 06/5/1995 và Nguyễn Thị Hoàng O, sinh ngày: 09/12/1999. Hiện nay cả 02 con đều đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không đề cập đến.
- Về tài sản chung và nợ chung : Tách ra khi có yêu cầu thì giải quyết vụ án khác.
- Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ, ông Nguyễn Duy L phải chịu khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0003323 ngày 26 tháng 6 năm 2024.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Lương Thị Anh |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ ly hôn
