Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN

YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST

Ngày 12-8-2024

Về việc ly hôn, tranh chấp

nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Ngô Phiên;

2. Bà Nguyễn Thị Cương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 12/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2024/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 08/7/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Bá C, sinh năm 1992 - (Có đơn xin vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Chị Lê Thị B, sinh năm 1990 - (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, bản ghi ý kiến anh Phạm Bá C trình bày:

Trước khi kết hôn, anh C và chị B có tự do tìm hiểu. Anh Phạm Bá C và chị Lê Thị B tự nguyện kết hôn ngày 20/10/2017 tại UBND xã T, huyên Y. Sau khi kết hôn vợ chồng anh C, chị B về chung sống với bố mẹ anh C ở thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang sinh sống khoảng 1 tháng và ra ở riêng. Trong quá trình chung sống vợ chồng hay cãi nhau do bất đồng quan điểm sống. Đến năm 2020 mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên chị B về bên ngoại ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh C yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị B.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Minh Đ, sinh ngày 10/7/2018. Cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường, đang đi học và ở cùng anh. Sau khi ly hôn, anh C có nguyện vọng nuôi cháu Đ và không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung, nghĩa vụ chung về tài sản: không yêu cầu tòa án giải quyết.

* Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng chị Lê Thị B không có văn bản ghi nhận ý kiến trong hồ sơ vụ án.

* Tại biên bản xác minh ngày 07/6/2024 và ngày 10/6/2024 chính quyền địa phương xã T cung cấp như sau: Anh C, chị B sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang ngày 20/10/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Giữa anh C, chị B nảy sinh mâu thuẫn dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay, nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không nắm được. Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Minh Đ, sinh ngày 10/7/2018. Hiện cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường, đang đi học và ở cùng với anh C. Tại địa phương, anh C thuộc đối tượng hộ cận nghèo, chị B không thuộc đối tượng hộ nghèo, không thuộc đối tượng hộ cận nghèo, đối chiếu các quy định định miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án thì chị B đều không thuộc đối tượng.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/04/2024 đối với bà Phạm Thị T cho biết như sau: Bà là mẹ đẻ của chị Lê Thị B, anh C và chị B có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại UBND xã và chung sống với nhau ở thôn Đ, xã T. Trong quá trình chung sống anh C, chị B xảy ra mâu thuẫn: có chửi nhau, cãi nhau, xô sát do không hợp nhau và mâu thuẫn về kinh tế. Đến năm 2020 mâu thuẫn anh C, chị B trầm trọng chị B về ở cùng bà và đi làm công ty. Do công việc bận nên chị B chỉ về vào thứ bẩy, chủ nhật và các ngày nghỉ lễ. Anh C, chị B đã sống ly thân từ 2020 đến nay. Vợ chồng anh C, chị B có 01 con chung là Phạm Minh Đ, sinh ngày 10/7/2018, cháu Đ khỏe mạnh, phát triển bình thường, đang đi học mẫu giáo và ở cùng anh C. Nay anh C xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung, bà đề nghị căn cứ pháp luật giải quyết.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

- Áp dụng khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 BLTTDS;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ.

Áp dụng khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016, xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Bá C được ly hôn với chị Lê Thị B

- Về con chung: Giao cháu Phạm Minh Đ sinh ngày 10/7/2018 cho anh Phạm Bá C trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Lê Thị B không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

- Về án phí: Anh C được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh C xin ly hôn chị B; Chị B có địa chỉ cư trú tại huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị B nhưng chị B vắng mặt lần thứ hai không có lí do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị B.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh C, chị B có đăng ký kết hôn ngày 20/10/2017 tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình. Qua lời khai của anh C, lời khai của bà T là mẹ đẻ chị B, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương có căn cứ khẳng định: Vợ chồng anh C, chị B xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng chửi nhau, cãi nhau, xô sát do không hợp nhau và mâu thuẫn về kinh tế, vợ chồng anh C, chị B mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly từ năm 2020 đến nay. Anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với chị B. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án triệu tập chị B nhưng chị không đến, chị B đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày về việc anh C xin yêu cầu ly hôn nên anh C xin ly hôn chị B là có căn cứ để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về việc nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Minh Đ, sinh ngày 10/7/2018. Hiện cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang ở cùng anh Phạm Bá C, cháu đang đi học trường mầm non. Xét thấy từ khi ly thân cháu Đ ở cùng anh C, hiện cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang đi học mầm non. Chị B hiện đi làm công nhân và chỉ về nhà vào thứ bẩy, chủ nhật và các ngày lễ. Do đó để ổn định cuộc sống và việc học tập của cháu Đ cần giao cháu Đ cho anh C chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản, công nợ, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí:

Anh Phạm Bá C thuộc đối tượng hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí ly hôn cho anh C theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Bá C: Xử cho anh Phạm Bá C được ly hôn chị Lê Thị B.
  3. Về việc nuôi con: Giao cho anh Phạm Bá C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Minh Đ, sinh ngày 10/7/2018. Vấn đề cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở họ thực hiện quyền này.
  5. Về tiền án phí: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho anh Phạm Bá C.
  6. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Yên Thế;
  • - VKSND tỉnh Bắc giang;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thế;
  • - UBND xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án tối cao;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hồng Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 12/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh C xin ly hôn chị B, yêu cầu giải quyết nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger