|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án: 32/2024/HS-ST Ngày: 12/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lâm Thị Thu;
- Ông Phan Văn Tao.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chí Đông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Hải – Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/HSST ngày 16/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2024/QĐXXST-HS ngày 07/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 217/2024/HSST-QĐ ngày 29/5/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phan Phước H; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm: 2000; tại: Tỉnh An Giang; hộ khẩu thường trú: Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 01/12; con ông: Không rõ và bà Phan Thị Huỳnh M, sinh năm 1978; anh chị em: Không; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 14/01/2024 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Phạm Công T; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm 1993; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 52/4 tổ A, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 10/12; con ông Phạm Công D, sinh năm 1969 và bà Lê Thanh N, sinh năm 1968; anh chị em: Có hai người, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1995; vợ, con: Không; tiền án: không; tiền sự: Ngày 09/4/2020, bị Công an xã P, huyện N, TP Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0028395/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị can chưa thực hiện việc đóng phạt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 15/01/2024 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 ngày 13/01/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện N phối hợp cùng Công an xã P, huyện N, tuần tra trên tuyến đường H. Khi đến trước đầu hẻm B H, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra đối với Phan Phước H đang điều khiển xe mô tô biển số 71S9-5331. Tại thời điểm Công an kiểm tra, H bỏ 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được dán kín băng keo màu đen đang cầm trên tay phải xuống đất thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ và H khai nhận là ma túy đá. Vụ việc được đưa về trụ sở Công an xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phan Phước H. Sau đó, Công an xã P, huyện N đã chuyển giao toàn bộ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để điều tra theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Phan Phước H khai nhận Phạm Công T là người hùn tiền mua ma túy với H. Ngày 15/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Công T.
Vào chiều ngày 13/01/2024, H điện thoại từ ứng dụng zalo cho T rủ cùng nhau góp mỗi người 100.000 đồng để mua ma túy sử dụng thì T đồng ý. H điều khiển xe mô tô đến nhà số E ấp E, xã P, huyện N để gặp T. Khi đến nơi, T đưa số tiền 100.000 đồng cho H để đi mua ma túy rồi điện thoại zalo vào nick “HỎI – NẾU NGÀY MAI” của một người đàn ông tên T1 để đặt mua ma túy. Sau đó, T nói H chạy đến khu vực trước hẻm B Nguyễn Bình ấp B, xã P, huyện N sẽ có người giao ma túy. H điều khiển xe mô tô BS: 71S9-5331 đến trước hẻm B Nguyễn Bình ấp B, xã P, huyện N gặp một người đàn ông lạ mặt mua một gói ma túy với giá 200.000 đồng. H cầm gói ma túy trong tay phải rồi điều khiển xe về đến trước đầu hẻm B H, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang như nội dung nêu trên. Do thấy H không quay lại, T biết H đã bị Cơ quan Công an bắt nên đã xóa toàn bộ nội dung liên lạc qua điện thoại với H.
Tại bản Kết luận giám định số 1305/KL-KTHS ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an T2, kết luận: 01 gói niêm phong, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu được dán kín băng keo màu đen, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phan Phước H và hình dấu Công an xã P, huyện N là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine có khối lượng 0,2422 gam.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) gói nylon được dán băng keo màu đen chứa tinh thể không màu (có khối lượng 0,2422g (không phẩy hai bốn hai hai gam). Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,2120g được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (Ký hiệu: 455(1305)).
- 01 (một) xe mô tô biển số: 71S9-5331; Số khung: RRKWCHSUM7X015300; Số máy: VTTJL1P52FMH-7015300. Chiếc xe mô tô trên do Nguyễn Văn V (sinh năm: 1972; nơi thường trú: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre) đứng tên chủ sở hữu. Hiện nay V không có mặt tại địa phương, bỏ đi đâu không rõ. Phan Phước H khai mượn của mẹ ruột là Phan Thị Huỳnh M. Phan Thị Huỳnh M khai nhận mua chiếc xe mô tô trên của Trần Thị N1 (sinh năm: 1974; nơi thường trú: 994B/68 H, khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) tại cửa hàng bán xe V1, địa chỉ: B H, khu phố F, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 5.800.000 đồng và có làm giấy tờ tay mua bán vào ngày 03/8/2023. Qua tra cứu chiếc xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Do chưa thể làm việc với Nguyễn Văn V là người đứng tên chủ sở hữu chiếc xe mô tô trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành đăng báo truy tìm chủ sở hữu hoặc người có liên quan đối với chiếc xe mô tô trên nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến liên hệ giải quyết.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu đen, IMEI 1: 860666051945316, IMEI 2: 860666051945308 của Phan Phước H.
- 01 (một) điện thoại di động kiểu máy: Redmi 9A, màu xanh, IMEI 1: 864699051158966, IMEI 2: 864699051158974 của Phạm Công T.
Bản cáo trạng số: 20/CT-VKS-NB ngày 11/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã truy tố bị cáo Phan Phước H và bị cáo Phạm Công T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phan Phước H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Công T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.
Xử lý vật chứng, đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,2120g được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (Ký hiệu: 455(1305)).
- 01 (một) xe mô tô biển số: 71S9-5331; Số khung: RRKWCHSUM7X015300; Số máy: VTTJL1P52FMH-7015300. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên đề nghị tiếp tục Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đăng thông báo tìm chủ sở hữu, hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng thông báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu đen, IMEI 1: 860666051945316, IMEI 2: 860666051945308 tịch thu của bị cáo Phan Phước H do đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động kiểu máy: Redmi 9A, màu xanh, IMEI 1: 864699051158966, IMEI 2: 864699051158974 tịch thu của bị cáo Phạm Công T. do đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Các bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 13/01/2024, tại trước đầu hẻm B H, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Phước H đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2422 gam (không phẩy hai bốn hai hai gam), loại Methamphetamine, thì bị phát hiện bắt quả tang. Số ma túy trên do H và Phạm Công T cùng nhau góp tiền, mỗi người là 100.000 đồng để H đi mua về cùng nhau sử dụng.
Căn cứ Theo Kết luận giám định số 1305/KL-KTHS ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an T2, kết luận: 01 gói niêm phong, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu được dán kín băng keo màu đen, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phan Phước H và hình dấu Công an xã P, huyện N là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine có khối lượng 0,2422 gam. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của Phan Phước H và Phạm Công T là đồng phạm giản đơn, có vai trò ngang nhau. Các bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý và nguy hiểm, vì tội phạm về ma túy gây tác hại lớn cho con người và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác nên cần có mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam, do đó Hội đồng xét xử xem xét không buộc các bị cáo phải chịu phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Đối với người đàn ông tên T1 đã bán ma túy trái phép cho các bị cáo, do không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra huyện N tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[6] Xử lý vật chứng:
- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,2120g được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (Ký hiệu: 455(1305)). Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) xe mô tô biển số: 71S9-5331; Số khung: RRKWCHSUM7X015300; Số máy: VTTJL1P52FMH-7015300. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đăng thông báo tìm chủ sở hữu, hết thời hạn đăng thông báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu đen, IMEI 1: 860666051945316, IMEI 2: 860666051945308 tịch thu của bị cáo Phan Phước H. Bị cáo dùng điện thoại làm phương tiện liên lạc với bị cáo T, bàn bạc việc mua ma túy về sử dụng. Do đó, tịch thu điện thoại di động hiệu Realme, màu đen, IMEI 1: 860666051945316, IMEI 2: 860666051945308 sung quỹ Nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động kiểu máy: Redmi 9A, màu xanh, IMEI 1: 864699051158966, IMEI 2: 864699051158974 tịch thu của bị cáo Phạm Công T. Bị cáo dùng điện thoại làm phương tiện liên lạc với bị cáo H, bàn bạc việc mua ma túy về sử dụng. Do đó, tịch thu điện thoại di động kiểu máy: Redmi 9A, màu xanh, IMEI 1: 864699051158966, IMEI 2: 864699051158974 sung quỹ Nhà nước.
[7] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Phan Phước H, Phạm Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt:
Bị cáo Phan Phước H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024.
Bị cáo Phạm Công T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.
2. Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
2.1 Tịch thu tiêu hủy:
- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,2120g được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (Ký hiệu: 455(1305)).
2.2. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đăng thông báo tìm chủ sở hữu của 01 (một) chiếc xe môtô biển số: 71S9-5331; Số khung: RRKWCHSUM7X015300; Số máy: VTTJL1P52FMH-7015300. Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng thông báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
2.3 Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu đen, IMEI 1: 860666051945316, IMEI 2: 860666051945308; 01 (một) điện thoại di động kiểu máy: Redmi 9A, màu xanh, IMEI 1: 864699051158966, IMEI 2: 864699051158974.
(Theo Phiếu nhập kho số 2024-NK038 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.)
3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị D1 |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
