Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS - ST

Ngày: 12-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quang Phong

Ông Trần Văn Nam

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Tấp - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST - HS ngày 19 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn P; sinh ngày 24/4/1995, tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: học sinh thực tập Công ty T2; trình độ học vân: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1 và bà Đỗ Thị Q; vợ: Nguyễn Thị N; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/12/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, đến ngày 06/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp "Bảo lĩnh" hiện tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: ông Nguyễn Văn N1; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/12/2023, trong quá trình phối hợp tuần tra tại khu vực ngõ B, thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh Q và Công an thị xã Đ phát hiện một đối tượng nam giới điều khiển xe ô tô con (không rõ biển kiểm soát) đang trao đổi 01 (một) bao tải dứa màu vàng và 01 (một) thùng bìa cát tông (nghi bên trong chứa pháo nổ) với Nguyễn Văn P. Khi thấy lực lượng tuần tra, đối tượng nam giới điều khiển xe ô tô bỏ chạy. Tổ công tác kiểm tra 01 (một) bao tải dứa bên trong có 05 (năm) khối hình hộp có cùng đặc điểm kích thước (15,5x15,5x14,5) cm, được bọc bởi lớp giấy nhiều màu sắc và có chữ nước ngoài, bên trong là khối đúc liền có 36 (ba mươi sáu) lỗ tròn; 01 (một) thùng bìa cát tông bên trong có 01 (một) túi nilon bên trong túi có 02 (hai) dây liên kết các vật hình trụ tròn (tràng), vỏ bằng giấy màu hồng, được bịt kín hai đầu, mỗi vật có kích thước (5,5x2,3)cm. Ngoài ra còn thu giữ của P 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE gắn sim số 0336.078.xxx. Tổ công tác đã đưa P cùng toàn bộ vật chứng nêu trên về trụ sở để giải quyết.

Tại Kết luận giám định số 112/KL-KLHS ngày 15/12/2023 của Phòng K Công an T3: 05 (năm) khối hình hộp là Pháo hoa nổ; khi đốt hoặc kích thích pháo trong các khối bay lên cao liên tiếp, gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng sắc màu trong không gian; nguồn gốc: do Trung Quốc sản xuất; tổng khối lượng 7,81 kg; các vật hình trụ tròn được liên kết thành 02 (hai) tràng là P2 nổ; khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ và nổ liên tiếp; nguồn gốc: tự chế tại Việt Nam; tổng khối lượng: 3,28 kg.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn P đã khai nhận: với mục đích mua pháo về sử dụng nên khoảng đầu năm 2023, thông qua mạng xã hội Facebook, P đã mua của một người đàn ông không quen biết 04 (bốn) dây pháo nổ với giá 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) và cất giấu tại nhà. Đến tháng 11/2023, thông qua mạng xã hội Z, P liên lạc với một người tên T có tài khoản "Tuấn N2" và thoả thuận: P đặt mua của T 04 (bốn) hộp pháo giàn 36 lỗ (loại pháo do Trung Quốc sản xuất) với giá 520.000đ (năm trăm hai mươi nghìn đồng)/01 (một) giàn, T sẽ cho thêm một hộp (mục đích để P sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán); đổi lại, P sẽ bán cho T 02 bánh pháo nổ (mà P đã mua trước đó) với giá 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng), P phải trả chênh lệch cho T 880.000đ (tám trăm tám mươi nghìn đồng).

Thực hiện theo thoả thuận, khoảng 18 giờ ngày 09/12/2023, P mang 02 (hai) dây pháo nổ đựng trong túi nilon cho vào thùng cát tông ra đầu ngõ 2 cách nhà P khoảng 100m thì thấy T đi xe ô tô màu trắng đến. Khi P vừa nhận 05 (năm) hộp pháo giàn 36 lỗ từ T và trả cho T 880.000đ (tám trăm tám mươi nghìn đồng) nhưng chưa kịp giao cho T 02 (hai) dây pháo nổ thì bị Công an đến kiểm tra, bắt giữ, còn T lên xe ô tô bỏ chạy.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P khai nhận như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Ngoài ra, tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P khai: đầu năm 2023, do có nhu cầu mua pháo để đốt dịp Tết Nguyên đán, bị cáo đã lên mạng xã hội facebook, mua của một người không quen biết một lượng pháo với số tiền 800.000 đồng. Nhận pháo xong, bị cáo cất giấu ở nhà bị cáo, không cho ai biết. Sau đó, vào khoảng tháng 11 năm 2023, bị cáo đã tình cờ quen người đàn ông tên T, sử dụng tài khoản zalo “Tuấn N2”. Qua trò chuyện, bị cáo biết người đàn ông này có nhu cầu đốt pháo và có pháo bán. Anh T1 hẹn mua của bị cáo hai dây pháo nổ với giá 1.200.000 đồng và hẹn giao pháo ở đầu ngõ B, thôn T, xã H, thị xã Đ. Khoảng nửa tháng sau, anh T1 tiếp tục nhắn tin hỏi mua pháo nhưng bị cáo nói hết pháo, chỉ còn vài quả pháo tự chế, rơi ra từ hai dây pháo trước bị cáo giữ lại và hẹn mang cho anh T1 không lấy tiền. Việc bị cáo mua pháo của anh T1 vào ngày 09/12/2023 là do ngày 06/12/2023, anh T1 có nhắn tin cho bị cáo hỏi mua 05 dây pháo và bị cáo hỏi mua lại của T1 04 giàn pháo, T1 đồng ý và hứa tặng bị cáo 01 giàn pháo màu tím đốt thử, bị cáo phải đưa thêm cho T1 880.000 đồng. Như đã hẹn, khoảng 18 giờ 20 phút, bị cáo đưa thùng cát tông có hai dây pháo và số tiền 880.000 đồng cho anh T1, nhận lại một bao tải dứa màu vàng bên trong có 05 giàn pháo hoa. Cả hai đang nói chuyện thì bị lực lượng công an vây bắt, thu giữ số pháo trong bao tải dứa và thùng cát tông theo quy định. Việc bị cáo trao đổi pháo với anh T1 là nhằm mục đích có pháo hoa để đốt (sử dụng). Số tiền 880.000 đồng bị cáo trao đổi mua pháo là tiền cá nhân của bị cáo, do bị cáo đi làm thuê có được.

Người chứng kiến ông Nguyễn Văn N1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/12/2023, ông được Công an mời đến chứng kiến việc cơ quan Công an tiến hành bắt giữ 01 đối tượng là nam giới cùng tang vật là 05 (năm) hộp pháo giàn 36 lỗ và 02 (hai) dây pháo nổ. Người đàn ông khai tên Nguyễn Văn P, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Số pháo bị thu giữ là P mua của hai người đàn ông không quen biết để sử dụng dịp Tết. Sau đó, ông được mời về trụ sở Công an xã H để chứng kiến Cơ quan Công an tiến hành cân xác định trọng lượng pháo thu giữ và niêm phong theo quy định pháp luật.

Tại Cáo trạng số: 32/CT - VKSĐT ngày 18 - 3 - 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ hàng cấm”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội "Tàng trữ hàng cấm", thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, hoàn cảnh khinh tế gia đình khó khăn, chưa có nghề nghiệp nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) thùng niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định số 112CN/PC 09 theo Kết luận giám định số 112/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng K Công an thành phố T3; 01 (một) sim điện thoại 0336.078.xxx

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của bị cáo Nguyễn Văn P, đã qua sử dụng.

Lưu trong hồ sơ vụ án 01 (một) phong bì của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ, bên trong có USB kèm theo Kết luận giám định, được niêm phong bởi chữ ký của ông Hoàng Văn P3, anh Phạm Trung H và bị cáo Nguyễn Văn P.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, lập hồi 19 giờ 00 phút ngày 09/12/2023 tại thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, với biên bản xác định hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/12/2023, tại khu vực ngõ B, thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn P có hành vi tàng trữ trái phép 11,09 kg pháo nổ, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp chế độ quản lý của nhà nước đối với các loại hàng hoá mà nhà nước cấm lưu hành, sản xuất, buôn bán, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe và hoàn toàn đủ khả năng nhận thức được những việc làm đúng sai của bản thân nhưng do thiếu sự tu dưỡng đạo đức và thái độ chấp hành pháp luật còn hạn chế nên đã vi phạm pháp luật. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội do mình gây ra.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, hiện đang là thực tập sinh của Công ty T2, bị cáo có 02 con nhỏ, là lao động chính trong gia đình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục, cải tạo để giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo không có tài sản riêng, chưa có việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Số pháo hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và 01 (một) sim điện thoại không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 điện thoại của bị cáo Nguyễn Văn P liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[7] Về các vấn đề khác: theo lời khai của P thì trước ngày 09/12/2023, P đã bán 02 (hai) dây pháo nổ (trong số pháo nổ mà P đã mua qua mạng xã hội) cho người tên T1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) nhưng quá trình điều tra không xác định được số lượng, loại pháo nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người bán pháo nổ cho P thông qua mạng xã hội Facebook và đối tượng "Tuấn N2" trao đổi pháo với P, quá trình điều tra không xác định được lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Lưu trong hồ sơ vụ án 01 (một) phong bì của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ, bên trong có USB kèm theo Kết luận giám định, được niêm phong bởi chữ ký của ông Hoàng Văn P3, anh Phạm Trung H và bị cáo Nguyễn Văn P.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: "Tàng trữ hàng cấm"

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) thùng niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định số 112CN/PC 09 theo Kết luận giám định số 112/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng K Công an thành phố T3; 01 (một) sim điện thoại 0336.078.xxx

    • + Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của bị cáo Nguyễn Văn P, đã qua sử dụng;

    (Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 66 ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).

  3. Về xử lý biện pháp ngăn chặn: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” số 431/QĐ - CSKT ngày 06/02/2024 và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số 433/2024/TB ngày 06/02/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ đối với bị cáo Nguyễn Văn P kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã Đông Triều;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Đông Triều;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THA DS Thị xã Đông Triều;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS - ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ hàng cấm (hình sự)

  • Số bản án: 32/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Phi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger