|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày 10 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Quốc Văn
Ông Hoàng Xuân Niêm
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Văn N, sinh năm 1985 tại huyện T, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp X, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H (đã chết) và bà Trần Thị N1; anh chị em ruột: có 02 người; vợ, con: Chưa có; tiền án: 01 tiền án, ngày 25/5/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phạt tù ngày 17/3/2024, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/4/2024 chuyển tạm giam ngày 02/5/2024 cho đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 20 phút ngày 27/4/2024, Tổ tuần tra giao thông Công an huyện T kết hợp với Công an thị trấn T dừng phương tiện xe mô tô biển số 67M6-4332 do Trần Văn N điều khiển tiến hành kiểm tra phát hiện trong cốp xe có 01 gói thuốc hiệu SEVEN DIAMONDS, bên trong gói thuốc có 01 gói nilon màu trắng chứa ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng với tang vật.
Tại Kết luận giám định số 240/KL-KTHS ngày 30/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS3 2033303 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,7445 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì hoàn mẫu số 240/KL-KTHS ngày 30/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, 01 gói thuốc lá hiệu SEVEN DIAMONDS.
Tại Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình đã truy tố Trần Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Văn N thừa nhận hành vi của mình như nội dung của cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn N mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 240/KL-KTHS ngày 30/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, 01 gói thuốc lá hiệu SEVEN DIAMONDS.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải, kính xin Hội đồng xem xét cho bị cáo mức án nhẹ sớm được về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, Kiểm sát viên từ khi khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Thực tế, quá trình này bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Vào lúc 17 giờ 20 phút ngày 27/4/2024, tại Khóm B, thị trấn T, huyện T, lực lượng Công an tuần tra dừng phương tiện mô tô biển số 67M6-4332 do bị cáo Trần Văn N điều khiển tiến hành kiểm tra phát hiện trong cốp xe có 01 gói thuốc lá hiệu SEVEN DIAMONDS, bên trong gói thuốc có 01 gói nilon màu trắng chứa ma túy. Lực lượng làm nhiệm vụ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật có tổng khối lượng là 0,7445 gam, loại Methamphetamine đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 25/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo Trần Văn Nghĩa L có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất và mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, gây tác hại lớn đến sức khỏe, nhân cách và sự phát triển bình thường của con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Bị cáo là người trưởng thành có đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy cũng như những quy định của Nhà nước cấm nghiêm khắc đối với tất cả các hành vi trái pháp luật liên quan đến ma túy, trong đó có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Song với ý thức coi thường pháp luật bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Nhằm đấu tranh phòng chống và từng bước đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Năm 2020, bị cáo N bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau chấp hành xong hình phạt trở về hòa nhập cộng đồng khi chưa được xóa án tích bị cáo N lại tiếp tục phạm tội mới, nên lần phạm tội này của bị cáo Nghĩa là tái phạm nên bị cáo N phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết như: Bị cáo Trần Văn N thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, có Cậu ruột là Liệt sĩ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ đó, Hội đồng xét xử có xem xét đầy đủ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[5] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo N. Do bị cáo N không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ xác minh để xử lý là phù hợp.
[6] Đối với 01 xe mô tô biển số 67M6-4332, xe đã qua sử dụng là của ông Trần Xuân N2 cho bị cáo N mượn làm phương tiện đi lại, ông N2 không biết việc bị cáo N cất giấu ma túy trong cốp xe nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông N2 là phù hợp.
[7] Xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì hoàn mẫu số 240/KL-KTHS ngày 30/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, 01 gói thuốc lá hiệu SEVEN DIAMONDS. Hội đồng xét xử xét thấy vật chứng này là vật cấm tàng trữ, vật không có giá trị sử dụng nên bị tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 27/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 240/KL-KTHS ngày 30/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, 01 gói thuốc lá hiệu SEVEN DIAMONDS (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình).
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tiêu Hồng Phượng |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Ngh phạm tội tàng trữ ma túy
