Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 10-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Phúc

Ông Lê Văn Bé

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu trung tâm) và Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu thành phần) xét xử phiên tòa trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Thông báo về thay đổi thời gian xét xử số: 06/TB-TA ngày 20 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1989 tại tỉnh Đồng Tháp; tên gọi khác: Đ; nơi cư trú: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1956 (chết) và bà Đỗ Thị L, sinh năm 1961; có vợ và 01 người con; tiền án: Ngày 29/3/2019, Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 25/6/2023; tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 25/02/2024; tạm giam: Ngày 02/3/2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ và có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Nguyễn Thành N, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 24/02/2024, Nguyễn Minh Đ là người nghiện ma túy điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59S1-207.09 đi từ nhà tại ấp P, xã A đến khu vực gần cầu N, thuộc phường A, thành phố H gặp người tên P (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma túy, P đồng ý bán và lấy 01 túi ny lon bên trong có ma túy giao cho Đ nhận ma túy bỏ vào túi quần phía trước bên phải trả 2.500.000 đồng. Sau khi có ma túy, Đ điều khiển xe về hướng xã A, huyện T. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe đến khu vực đường C, thuộc ấp A, xã A, Công an xã A nghi vấn Đức tàng trữ ma túy đã yêu cầu dừng xe, kiểm tra trên người của Đ phát hiện bên trong túi quần Jean bên phải, phía trước có 01 túi nylon dạng nắp kẹp, bên trong có nhiều tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy. Tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong ma túy và gửi giám định.

Vật chứng thu giữ: Mẫu tinh thể rắn còn lại sau trích mẫu trong bao thư có khối lượng 4,532 gam, được dán giấy niêm phong lại ghi “Niêm phong số: 203, ngày 25/02/2024", có đóng dấu hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ” và có chữ ký họ tên Nguyễn Văn Bé N1, Nguyễn Thành T, Lê Như K và Nguyễn Minh Đ; 01 xe mô tô biển kiểm soát 59S1-207.09, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng vàng, số máy bị cà không còn số, số khung bị cà không nhìn rõ số, đối với xe mô tô Nguyễn Minh Đ khai mua của 01 người đàn ông (không rõ họ tên địa chỉ cụ thể) không giấy tờ, mua giá 2.000.000 đồng;

Kết luận giám định số: 598/KL-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, kết luận: Xe mô tô, màu sơn trắng – đen, biển số 59S1-207.09 gửi đến giám định có số khung, ký tự khung và máy đều bị thay đổi. Cụ thể: Số, ký tự khung bị tẩy xóa, sau giám định đọc lại được: “RLCS5C6K0FY248547"; Số, ký tự máy bị tẩy xóa, sau giám định đọc lại được: “5C6K-248558”.

Kết quả xác minh: Xe mô tô biển số 59S1-207.09, loại xe đăng ký là AIR BLADE nhãn hiệu HONDA; Xe mô tô có số máy 5C6K248558, số khung RLCS5C6K0FY248547, loại xe đăng ký Sirius, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn trắng đen, biển số 95H1-200.23, chủ sở hữu xe là Nguyễn Văn Đ1, địa chỉ ấp B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ủy thác điều tra nhưng chưa có kết quả trả lời. Xét thấy, xe mô tô chưa làm rõ chủ sở hữu, giao cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ.

Tại Bản kết luận giám định số: 223/KL-KTHS, ngày 28/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong một túi nylon màu trắng dạng nắp kẹp, được niêm phong trong bao thư nêu trên gửi giám định là chất ma tuý, có tổng khối lượng 4,780 gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc danh mục II, Nghị định số 57/20022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ). Hoàn trả đối tượng giám định: Mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong bao thư có khối lượng 4,532 gam.

Tại Cáo trạng số: 31/CT-VKSTN ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mức hình phạt từ 04 năm đến 05 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tuyên tịch tiêu hủy mẫu tinh thể rắn còn lại sau trích mẫu trong bao thư có khối lượng 4,532 gam, được dán giấy niêm phong lại ghi “Niêm phong số: 203, ngày 25/02/2024", có đóng dấu hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ” và có chữ ký họ tên Nguyễn Văn Bé N1, Nguyễn Thành T, Lê Như K và Nguyễn Minh Đ;

Giao cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T tiếp tục quản lý, xác minh làm rõ nguồn gốc xử lý theo pháp luật: 01 xe mô tô biển kiểm soát 59S1-207.09, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng vàng, số máy bị cà không còn số, số khung bị cà không nhìn rõ số.

Bị cáo Nguyễn Minh Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Người làm chứng ông N vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Đối với người làm chứng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và đã trình bày ý kiến trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt ông N theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản ảnh ngày 24/02/2024 của Công an xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Kết luận giám định số: 223/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ; Lời khai người làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đ mua ma tuý của người tên P với giá 2.500.000 đồng, mục đích để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/02/2024, bị cáo để ma tuý trong túi nylon dạng nắp kẹp bên trong túi quần Jean bên phải, phía trước của bị cáo rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59S1- 207.09 đến đường C thuộc ấp A, xã A thì bị Công an xã A lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang. Theo Kết luận giám định số 223/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ thể hiện: Tinh thể rắn chứa trong 01 túi nylon màu trắng dạng nắp kẹp là chất ma tuý, có khối lượng 4,780 gam, loại Methamphetamine. Do đó, hành vi của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"

Hành vi của bị cáo xem thường pháp luật đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, bị cáo có một tiền án về tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy” bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt 06 năm tù, chấp hành xong ngày 25/6/2023 nhưng bị cáo không biết sửa đổi bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Qua đó, thấy được ý thức xem thường pháp luật của bị cáo nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án vào ngày 29/3/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 25/6/2023, chưa được xoá án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có cậu ruột tên Đỗ Thanh V được Hội đồng Nhà nước tặng thưởng “Huân chương chiến công” hạng Ba ngày 06/3/1989. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp làm thuê thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 59S1-207.09, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng vàng, số máy bị cà không còn số, số khung bị cà không nhìn rõ số. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Minh Đ khai mua của 01 người đàn ông (không rõ họ tên địa chỉ cụ thể) không giấy tờ, mua giá 2.000.000 đồng. Theo Kết luận giám định số: 598/KL-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, kết luận: xe mô tô, màu sơn trắng – đen, biển số 59S1-207.09 gửi đến giám định có số khung, ký tự khung và máy đều bị thay đổi. Cụ thể: Số, ký tự khung bị tẩy xóa, sau giám định đọc lại được: “RLCS5C6K0FY248547”; Số, ký tự máy bị tẩy xóa, sau giám định đọc lại được: “5C6K-248558”. Căn cứ Kết quả xác minh tra cứu: Xe mô tô biển số 59S1-207.09, loại xe đăng ký là AIR BLADE nhãn hiệu HONDA chủ xe Nguyễn Ngọc M, địa chỉ: 2 X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Số máy 5C6K248558, số khung RLCS5C6K0FY248547, loại xe đăng ký Sirius, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn trắng đen, biển số 95H1-200.23, chủ xe Nguyễn Văn Đ1, địa chỉ: ấp B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định ủy thác điều tra số: 352/QĐ-ĐCSHS-KTMT ngày 16/5/2024 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang và Quyết định ủy thác điều tra số: 353/QĐ-ĐCSHS-KTMT ngày 16/5/2024 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận B, thành phố Hồ Chí Minh để xác minh nhưng đến nay chưa có kết quả. Xét thấy, xe mô tô trên chưa đủ căn cứ xem xét xử lý trong vụ án nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp tiếp tục quản lý, xác minh làm rõ nguồn gốc xe mô tô trên, khi nào làm việc được rõ nguồn gốc sẽ xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong bao thư có khối lượng 4,532gam, loại Methamphetamine (Theo Kết luận giám định số: 223/KL-KTHS, ngày 28/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ) được dán giấy niêm phong lại ghi “Niêm phong số: 203, ngày 25/02/2024”, có đóng dấu hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ” và có chữ ký họ tên Nguyễn Văn Bé N1, Nguyễn Thành T, Lê Như K và Nguyễn Minh Đ. Xét thấy, vật chứng nêu trên là chất ma túy, bị cấm tàng trữ và có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Đối với người tên P bán ma túy cho bị cáo Đ. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được với P sẽ xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 25 tháng 02 năm 2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    1. Tịch thu tiêu hủy: Mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong bao thư có khối lượng 4,532gam, loại Methamphetamine (Theo Kết luận giám định số: 223/KL-KTHS, ngày 28/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ) được dán giấy niêm phong lại ghi “Niêm phong số: 203, ngày 25/02/2024”, có đóng dấu hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ” và có chữ ký họ tên Nguyễn Văn Bé N1, Nguyễn Thành T, Lê Như K và Nguyễn Minh Đ.
    2. Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp tiếp tục quản lý, xác minh làm rõ nguồn gốc, xử lý theo quy định pháp luật: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 59S1-207.09, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng vàng, số máy bị cà không còn số, số khung bị cà không nhìn rõ số.

      (Tất cả vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Nguyễn Minh Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo;
  • - CQ CSĐT CA H. Tam Nông;
  • - CQ THAHS CA H. Tam Nông;
  • - Nhà tạm giữ CA H. Tam Nông;
  • - Chi cục THADS H. Tam Nông;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Huỳnh Kim Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger