Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-5-2024

Về việc “Ly hôn,

tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Văn Hoà
  2. Ông Nguyễn Bính

- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Anh Huy là Thư ký viên của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Nhã Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 527/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 206/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim D, sinh năm 1995

Địa chỉ: Thôn U, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Lê Minh L, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn X, xã P, Tp P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt Bà D, vắng mặt Ông L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyện đơn Bà Trần Thị Kim D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và Ông Lê Minh L tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Uỷ ban nhân dân phường Phú Trinh, Tp Phan Thiết.

Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu nhưng càng về sau Ông L sinh tật cờ bạc, ngoại tình, bỏ mặc bà một mình nuôi con. Bà nhiều lẫn khuyên ngăn nhưng Ông L không bỏ nên thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn gay gắt, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên từ năm 2021 đã không còn chung sống với nhau cho đến nay và không ai quan tâm đến ai.

Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể hàn gắn để sống chung nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Bà và Ông L có 02 con chung tên Lê Thị Ánh Tuyết, sinh ngày 31/12/2016 và Lê Minh Thiên, sinh ngày 12/10/2021. Hiện nay bà đang nuôi con tên Thiên, còn con tên Tuyết đang ở với Ông L. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con tên Thiên và đồng ý giao con tên Tuyết cho Ông L nuôi, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn: Ông Lê Minh L đã được Tòa án triệu tập cũng như tống đạt nhiều lần các văn bản tố tụng nhưng cũng không đến Tòa án và cũng không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Vụ án không hòa giải được do Ông L không đến toà.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Bị đơn chấp hành chưa đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử, xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim D được ly hôn với Ông Lê Minh L; Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Lê Thị Ánh Tuyết, sinh ngày 31/12/2016 và Lê Minh Thiên, sinh ngày 12/10/2021. Sau khi ly hôn giao cháu Thiên cho Bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Tuyết cho Ông L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Do không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xét; Về tài chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị Kim D yêu cầu ly hôn Ông Lê Minh L và yêu cầu giải quyết về nuôi con. Bị đơn Ông Lê Minh L có nơi cư trú tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Minh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xử vắng mặt Ông L.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim D và Ông Lê Minh L có đăng ký kết hôn ngày 07/7/2016 tại Uỷ ban nhân dân phường Phú Trinh, Tp Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Trích lục kết hôn số 882/TLKH-BS ngày 12 tháng 10 năm 2023 nên quan hệ hôn nhân của Bà D và Ông L là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của Bà D, Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình”“Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.

Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”.

Từ quy định được viện dẫn nêu trên, đối chiếu với lý do yêu cầu ly hôn của Bà D, cho thấy nguyên nhân mâu thuẫn giữa Bà D và Ông L xuất phát từ phía Ông L, dẫn tới vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn gay gắt, bất đồng quan điểm nên từ năm 2021 cho đến nay ông bà đã không còn sống chung với nhau, không ai quan tâm đến ai, chứng tỏ ông bà không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình; Tòa án đã thông báo để hòa giải giữa hai bên nhưng Ông L không đến tòa, chứng tỏ ông bà không muốn cho nhau cơ hội để tiếp tục sống chung nên ông bà đã vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Lý do Bà D yêu cầu ly hôn, Ông L cũng không có ý kiến phản đối nên Bà D không phải chứng minh. Vì vậy yêu cầu ly hôn của Bà D là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và đã thỏa mãn điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Bà D khai giữa bà và Ông L có 02 con chung tên Lê Thị Ánh Tuyết, sinh ngày 31/12/2016 và Lê Minh Thiên, sinh ngày 12/10/2021. Xét yêu cầu về con chung của Bà D, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao con chung cho cha hay mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trên cơ sở phải đảm bảo điều kiện để phát triển tốt nhất nhằm ổn định cuộc sống cho các cháu. Theo lời khai của cháu Tuyết thể hiện cháu đang ở với Ông L, nhưng cháu có nguyện vọng được ở với mẹ là Bà D; tại phiên tòa Bà D cho rằng không đủ điều kiện để nuôi cả 02 con chung nên bà để Ông L tiếp tục nuôi cháu Tuyết, còn bà tiếp tục nuôi cháu Thiên. Vì vậy để ổn định trong cuộc sống, cũng như đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý cho các cháu nên tiếp tục giao cháu Tuyết cho Ông L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và tiếp tục giao cháu Thiên cho Bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Bà Trần Thị Kim D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Phan Thiết tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Kim D.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim D được ly hôn với Ông Lê Minh L.

Về con chung: Giao cháu Lê Thị Ánh Tuyết, sinh ngày 31/12/2016 cho Ông Lê Minh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Lê Minh Thiên, sinh ngày 12/10/2021 cho Bà Trần Thị Kim D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà Trần Thị Kim D và Ông Lê Minh L có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Bà D, Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về án phí: Bà Trần Thị Kim D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình. Ngày 20/10/2023 Bà D đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0018893 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết nay chuyển thành án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Trần Thị Kim D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Minh L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND Tp Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS Tp Phan Thiết;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Quách Văn Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HON, NUOI CON
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger