|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST
Ngày 09 tháng 9 năm 2024
V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- * Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Ánh Dương
- * Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tin.
- Ông Đào Xuân Thịnh.
- * Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Đăng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Dũng.
- * Đại diện VKSND huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 27/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T1, sinh năm 1977 (có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Bùi Thị T1: Ông Dương Văn Q- Luật sư thuộc Công ty L5- Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
- Bị đơn: Anh Vũ Trí H, sinh năm 1974 (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Lương Đức V, sinh năm 1962 (vắng mặt)
- + Bà Hoàng Thị B, sinh năm 1963 (vắng mặt)
- + Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1957 (vắng mặt)
- + Bà Vũ Thị L, sinh năm 1961 (vắng mặt)
- + Ông Vũ Trí L1, sinh năm 1947 (vắng mặt)
- + Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957 (vắng mặt)
- + Anh Lưu Xuân K, sinh năm 1962 (vắng mặt)
- + Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1963 (vắng mặt)
- + Anh Lưu Tuấn V1, sinh năm 1993 (vắng mặt)
- + Ông Vũ Trí H2, sinh năm 1950 (có mặt)
- + Bà Hoàng Thị T4, sinh năm 1953 (vắng mặt)
- + Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- + Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1975 (vắng mặt)
- + Anh Tạ Văn Đ, sinh năm 1971 (vắng mặt)
- + Chị Vũ Thị H3, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- + Anh Vũ Trí H4, sinh năm 1977 (vắng mặt)
- + Anh Vũ Trí C, sinh năm 1981 (vắng mặt)
- + UBND huyện Y, tỉnh Bắc Giang: Do bà Phòng Thị N – Trưởng phòng TN và MT, đại diện theo ủy quyền (vắng mặt)
- + UBND xã L, huyện Y: Do ông Nguyễn Văn Đ1 – Công chức địa chính- xây dựng, đại diện theo ủy quyền (vắng mặt) .
Đều cư trú: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Đều cư trú: Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Đều cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Cư trú: Số 16/43b, tổ C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Cư trú: Số A, tầng A, chung cư Q, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
Cư trú: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Lô A ALK C, đường H, khu đô thị P, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Cư trú: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày .06/3/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Bùi Thị T1 trình bày:
Chị và anh Vũ Trí H có tìm hiểu và tổ chức cưới hỏi vào tháng 12/1995 dương lịch trên cơ sở tự nguyện. Chị sinh 12/12/1977 nên khi cưới bị thiếu ngày và không đủ tuổi để đăng ký kết hôn. Từ năm 1995 đến nay thì vợ chồng chị cũng không đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, chị về nhà chị và làm dâu. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn từ năm 2019. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, anh H ngoại tình và vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi, chửi nhau. Do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng chị sống ly thân từ tháng 1/2023 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Vũ Trí H.
Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung là Vũ Trí H5, sinh ngày 02/8/1997 và Vũ Anh H6, sinh ngày 18/8/2006. Hiện nay cháu H5 và cháu H6 đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Năm 2014 vợ chồng chị được bố mẹ chồng chị là Vũ Trí H2, sinh năm 1950, Hoàng Thị T4, sinh năm 1953 chuyển nhượng diện tích 236m2, thửa đất số 390, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và sang tên sổ đỏ đính chính trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử đất số BX 500413 mang tên vợ chồng chị là Vũ Trí H, Bùi Thị T1. Trên đất này thì vợ chồng chị xây 01 cửa hàng có diện tích 144m2 (chiều dài 16m x chiều rộng 9m) với tổng trị là 247.000.000 đồng. Vợ chồng chị tách làm 02 thửa là: thửa đất số 483, tờ bản đồ số 5, diện tích 85m2 và thửa đất số 485, tờ bản đồ số 5, diện tích 147,2m2 (đo đạc thực tế là 148,2m2). Đến ngày 10/6/2024 thì vợ chồng chị chuyển nhượng cho anh Lưu Tuấn V1 diện tích 85m2, thửa đất số 483, tờ bản đồ số 5 với giá 1.180.000.000 đồng và đã sang tên sổ đỏ mang tên anh Lưu Tuấn V1 và vợ chồng chị đã tháo dỡ 01 nửa cửa hàng để cho anh Lưu Tuấn V1 xây tường ngăn cách với diện tích đất còn lại của anh chị (chị không có tranh chấp gì diện tích đã bán). Còn lại 04 mét chiều ngang của cửa hàng thuộc thửa đất số 484, tờ bản đồ số 5, diện tích 147,2m2 (đo đạc thực tế là 148,2m2) để bán hàng thì chị đề nghị chia đôi bằng hiện vật là đất cho chị và anh H mỗi người một nửa đất.
Năm 2021 vợ chồng chị xây dựng 01 ngôi nhà 03 gian loại 01 tầng trên 159,2m2 đất nằm trên diện tích 530,8m2 thuộc thửa 349, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang chưa có sổ đỏ, của bố mẹ chồng chị là ông Vũ Trí H2, bà Hoàng Thị T4 với tổng giá trị là 1.000.000.000 đồng, bằng nguồn tiền vợ chồng chị là Vũ Trí H, Bùi Thị T1 vay ngân hàng (đã xóa thế chấp và không có tranh chấp và yêu cầu gì). Chị là người đứng ra lo liệu kinh phí và trực tiếp thuê thợ, thanh toán việc xây nhà này. Ông H2, bà T4 (bố mẹ chồng chị) không góp 100.000.000 đồng để xây nhà này. Anh Vũ Trí H4 (em chồng chị) không góp 270.000.000 đồng để xây nhà này. Anh Vũ Trí C (em chồng chị) không góp 190.000.000 đồng để xây nhà này. Do vậy đề nghị Tòa án chia đôi giá trị nhà này. Anh H nhận hiện vật, chị nhận giá trị bằng tiền.
Về nghĩa vụ chung về tài sản: Các khoản nợ chị vay để xây nhà và cửa hàng gồm: Vay ông Lương Đức V, bà Hoàng Thị B 100.000.000 đồng; vay ông Nguyễn Văn T2, bà Vũ Thị L 100.000.000 đồng; vay ông Vũ Trí L1, bà Nguyễn Thị H1 137.000.000 đồng; vay anh Nguyễn Văn T5, chị Nguyễn Thị L2 200.000.000 đồng; vay anh Tạ Văn Đ, chị Vũ Thị H3 50.000.000 đồng. Những khoản vay này thì chị đứng ra vay để xây dựng nhà và cửa hàng. Anh H không tham gia giao dịch nhưng đồng ý để chị đi vay phục vụ việc xây nhà, cửa hàng. Chị đề nghị anh Vũ Trí H và chị mỗi người trả ½ các khoản nợ này.
Về ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung thì chị không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, chị không yêu cầu hoặc tranh chấp gì khác.
* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Vũ Trí H trình bày:
Khoảng tháng 11/1995 anh ra quân và trở về địa phương. Anh có tìm hiểu và tổ chức cưới chị Bùi Thị T1 vào tháng 12/1995 dương lịch trên cơ sở tự nguyện. Chị T1 sinh 12/12/1977 nên khi cưới bị thiếu ngày và không đủ tuổi để đăng ký kết hôn. Từ năm 1995 đến nay thì vợ chồng anh cũng không đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, chị T1 về nhà anh và làm dâu. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn từ năm 2018. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, chị T1 cho rằng anh ngoại tình và ghen tuông nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi, chửi nhau. Do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng anh sống ly thân năm 2018 cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị Bùi Thị T1.
Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng anh có 02 con chung là Vũ Trí H5, sinh ngày 02/8/1997 và Vũ Anh H6, sinh ngày 18/8/2006. Hiện nay cháu H5 và cháu H6 đã trưởngg thành nên anh không yêu cầu giải quyết về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Khoảng năm 2016 vợ chồng anh được bố mẹ đẻ anh là Vũ Trí H2, sinh năm 1950, Hoàng Thị T4, sinh năm 1953 cho diện tích 236m2, thửa đất số 390, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và sang tên sổ đỏ đính chính trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử đất số BX 500413 mang tên vợ chồng anh là Vũ Trí H, Bùi Thị T1. Trên đất này thì vợ chồng anh xây 01 cửa hàng có diện tích 144m2 (chiều dài 16m x chiều rộng 9m), anh không nắm rõ được giá trị, vật liệu. Vợ chồng anh tách làm 02 thửa là: thửa đất số 483, tờ bản đồ số 5, diện tích 85m2 và thửa đất số 484, tờ bản đồ số 5, diện tích 147,2m2 (đo đạc thực tế là 148,2m2). Đến ngày 10/6/2024 thì vợ chồng anh chuyển nhượng cho anh Lưu Tuấn V1 diện tích 85m2, thửa đất số 483, tờ bản đồ số 5 với giá 1.180.000.000 đồng và đã sang tên sổ đỏ mang tên anh Lưu Tuấn V1 và vợ chồng anh đã tháo dỡ 01 nửa cửa hàng để cho anh Lưu Tuấn V1 xây tường ngăn cách với diện tích đất còn lại của anh chị (anh không có tranh chấp gì diện tích đã bán). Còn lại 04 mét chiều ngang của cửa hàng thuộc thửa đất số 484, tờ bản đồ số 5, diện tích 147,2m2 (đo đạc thực tế là 148,2m2) để bán hàng thì anh đề nghị chia đôi bằng hiện vật là đất cho anh và chị T1 mỗi người một nửa đất.
Năm 2021 vợ chồng anh xây dựng 01 ngôi nhà 03 gian loại 01 tầng trên 159,2m2 đất nằm trên diện tích 530,8m2 thuộc thửa 349, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang chưa có sổ đỏ của bố mẹ anh là ông Vũ Trí H2, bà Hoàng Thị T4 với tổng giá trị là 1.000.000.000 đồng, bằng nguồn tiền vợ chồng anh là Vũ Trí H, Bùi Thị T1 vay ngân hàng (đã xóa thế chấp, không có tranh chấp). Anh đề nghị xác định: giá trị ngôi nhà 159,2m2 x 6.860.000 đồng x 23 x 4%= 1.004.743.040 đồng theo định giá ngày 15/7/2024. Anh xác định: em Vũ Trí H4 đóng góp 270.000.000 đồng, em Vũ Trí C đóng góp 190.000.000 đồng, bố anh là Vũ Trí H2 đóng góp 100.000.000 đồng. Tổng số là 560.000.000 đồng.
Về nghĩa vụ chung về tài sản: Các khoản nợ mà chị Bùi Thị T1 trình bày vay để vợ chồng anh xây nhà gồm: Vay ông Lương Đức V, bà Hoàng Thị B 100.000.000 đồng; vay ông Nguyễn Văn T2, bà Vũ Thị L 100.000.000 đồng; vay ông Vũ Trí L1, bà Nguyễn Thị H1 137.000.000 đồng; vay anh Nguyễn Văn T5, chị Nguyễn Thị L2 200.000.000 đồng; vay anh Tạ Văn Đ, chị Vũ Thị H3 50.000.000 đồng. Những khoản vay này thì anh không tham gia giao dịch, việc chị T1 vay không dùng vào mục đích làm nhà chung để ở nên anh không đồng ý trả các khoản nợ này.
Về ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung thì anh không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, anh không yêu cầu hoặc tranh chấp gì khác.
* Tại Đơn trình bày ý kiến ghi ngày 26/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Trí H2, bà Hoàng Thị T4 cùng thống nhất trình bày:
Năm 2021 vợ chồng ông bà là Vũ Trí H2, bà Hoàng Thị T4 đồng ý cho vợ chồng con trai, con dâu là anh Vũ Trí H, chị Bùi Thị T1 xây dựng 01 ngôi nhà 03 gian loại 01 tầng trên 159,2m2 nằm trong diện tích 530,8m2 thuộc thửa 349, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang với tổng giá trị là 1.000.000.000 đồng bằng nguồn tiền vợ chồng anh Vũ Trí H, chị Bùi Thị T1 vay ngân hàng (đã xóa thế chấp và không có tranh chấp). Vợ chồng anh Vũ Trí H, chị Bùi Thị T1 đứng ra thuê thợ, mua vật liệu, trông nom xây dựng bằng bằng nguồn tiền vay ngân hàng (đã xóa thế chấp). Ông bà xác định giá trị ngôi nhà 159,2m2 x 6.860.000 đồng x 23 x 4%= 1.004.743.040 đồng theo giá trị định giá ngày 15/7/2024. ông xác định: con ông Vũ Trí H4 đóng góp 270.000.000 đồng, con ông Vũ Trí C đóng góp 190.000.000 đồng, ông (Vũ Trí H2) đóng góp 100.000.000 đồng nhưng không có giấy tờ giao nhận tiền. Tổng số là 560.000.000 đồng. Diện tích nhà 159,2m2 và đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vợ chồng ông bà không có yêu cầu độc lập gì.
Từ trước đến nay vợ chồng ông bà là Vũ Trí H2, bà Hoàng Thị T4 ở ngôi nhà 26m2, trên đất khoảng 1080m2, đã có sổ đỏ, ở trong thôn H, xã L (khác với đất xây nhà 159,2m2 tanh chấp trên).
* Tại Đơn trình bày ý kiến ghi ngày 21/5/2024 của anh Vũ Trí H4 và Văn bản ý kiến ngày 22/5/2024 của anh Vũ Trí C và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Trí H4, anh Vũ Trí C trình bày:
Năm 2021, anh em các anh gồm anh Vũ Trí H, Vũ Trí H4, Vũ Trí C1 em trai các anh là Vũ Trí C đã thống nhất với nhau và bàn với bố mẹ các anh là sẽ góp tiền xây dựng 01 ngôi nhà 03 gian loại 01 tầng trên 159,2m2 nằm trong diện tích 530,8m2 thuộc thửa 349, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang cho bố mẹ các anh là Vũ Trí H2, bà Hoàng Thị T4. Các anh thống nhất sẽ cùng nhau đóng góp và giao cho vợ chồng anh H, chị T1 là con trai trưởng làm đầu mối xây dựng. Anh Vũ Trí H4 đóng góp 270.000.000 đồng, anh Vũ Trí C đóng góp 190.000.000 đồng. Còn lại vợ chồng anh H, chị T1 có trách nhiệm đóng góp xây dựng cho cho hoàn chỉnh.
Vì vậy, chị T1 không có quyền đòi chia phần tài sản này, vì nhà này là của bố mẹ các anh được xây dựng trên đất thuộc quyền sở hữu của bố mẹ các anh. Các anh không có yêu cầu hoặc đề nghị gì.
* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15/4/2024 của anh Lưu Xuân K, bản tự khai ngày 13/6/2024 của anh Lưu Tuấn V1 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lưu Xuân K, anh Lưu Tuấn V1 cùng thống nhất trình bày:
Ngày 10/6/2024 thì vợ chồng anh Vũ Trí H, Bùi Thị T1 làm thủ tục chuyển nhượng cho anh Lưu Tuấn V1 diện tích 85m2, thửa đất số 483, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang với giá 1.180.000.000 đồng và đã sang tên sổ đỏ mang tên anh Lưu Tuấn V1. Vợ chồng anh Vũ Trí H, Bùi Thị T1 đã tháo dỡ 01 nửa cửa hàng để cho anh Lưu Tuấn V1 xây tường ngăn cách với diện tích đất còn lại của vợ chồng anh Vũ Trí H, Bùi Thị T1.
Nay vợ chồng anh Lưu Xuân K, chị Nguyễn Thị T3 và con là anh Lưu Xuân K không có tranh chấp hoặc yêu cầu gì đối với việc nhận chuyển nhượng 85m2, thửa đất số 483, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang này.
* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 01/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T2, bà Vũ Thị L cùng thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông bà là Nguyễn Văn T2, bà Vũ Thị L là cậu mợ của anh Vũ Trí H (chồng chị Bùi Thị T1). Ngày 12/5/2023 âm lịch (tức ngày 29/6/2023 dương lịch) chị Bùi Thị T1 có sang nhà đặt vấn đề vay 100.000.000 đồng của vợ chồng ông bà để trả nợ tiền làm nhà. Lúc đó anh Vũ Trí H không có mặt ở nhà mà đang làm thợ xây ở huyện S và không tham gia giao dịch vay nợ. Vợ chồng ông bà là Nguyễn Văn T2, bà Vũ Thị L có đưa cho chị T1 vay tiền mặt là 100.000.000 đồng và chị T1 viết giấy biên nhận vay tiền mặt và ký nhận vay tiền với nội dung: Vay của ông, bà Liên T6 số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 1,5%/tháng. Trong giấy vay không ghi thời hạn vay.
Từ khi vay đến nay thì chị T1 chưa trả nợ gốc, lãi đồng nào. Vợ chồng ông bà đòi nợ thì chị T1 nói chưa có để trả nợ. Anh H đi làm nên chúng ông bà không gặp để đòi nợ được.
Nay vợ chồng ông bà là Nguyễn Văn T2, Vũ Thị L yêu cầu chị Bùi Thị T1 trả số tiền 100.000.000 đồng. Vợ chồng ông bà không yêu cầu chị Vũ Thị T7 trả tiền lãi vay. Đây là tài sản chung của vợ chồng ông bà.
Ngày 08/4/2024 vợ chồng sẽ làm đơn yêu cầu độc lập để khởi kiện, nộp tạm ứng án phí, làm đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí vì là người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên. Nếu đến ngày 08/4/2024 mà vợ chồng ông bà không làm đơn yêu cầu độc lập để khởi kiện và không nộp giấy vay tiền thì coi như không yêu cầu đòi nợ trên.
Ngày 24/5/2024 Tòa án đã ra Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí số 138/TB-TA. Nhưng ông T2 không nộp tạm ứng án phí nên Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện cho ông T2 theo quy định.
* Tại Bản tự khai ngày 08/9/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lương Đức V trình bày:
Vợ chồng ông Lương Đức V, bà Hoàng Thị B có cho chị Bùi Thị T1 vay 100.000.000 đồng từ ngày 10/10/2022 đến ngày 10/10/2023. Thời hạn đã hết nhưng chị Bùi Thị T1 khất nợ nên vợ chồng ông không khởi kiện đòi nợ này. Đề nghị Tòa án không giải quyết.
* Tại Bản tự khai ngày 08/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn T5, chị Nguyễn Thị L2 trình bày:
Vợ chồng anh Nguyễn Văn T5, chị Nguyễn Thị L2 có cho chị Bùi Thị T1 vay 200.000.000 đồng từ ngày 29/6/2023 đến ngày 29/6/2024. Đến nay chưa đến hạn trả nợ nên vợ chồng bà không khởi kiện đòi nợ chị Bùi Thị T1, anh Vũ Trí H. Đề nghị Tòa án không giải quyết.
* Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 14/5/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Vợ chồng bà Nguyễn Thị H1, ông Vũ Trí L1 có cho chị Bùi Thị T1 vay 137.000.000 đồng từ ngày 09/7/2023 âm lịch. Bà H1 đã đòi chị T1 nhiều lần nhưng không trả. Nay bà H1 đề nghị Tòa án không giải quyết buộc chị T1 trả lại số tiền này cho gia đình bà H1.
Ngày 24/5/2024 Tòa án đã ra Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí số 139/TB-TA. Nhưng bà H1 không nộp tạm ứng án phí nên Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện cho bà H1 theo quy định.
* Tại Bản trình bày quan điểm ghi ngày 05/6/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện Y do bà Phòng Thị N đại diện theo ủy quyền trình bày:
+ Nguồn gốc sử dụng đất, quá trình sử dụng đất:
Qua xác minh và thu thập tài liệu, chứng cứ; Căn cứ Công văn số 370/UBND-ĐĐ ngày 31/5/2024 của UBND xã L, vị trí đất đang tranh chấp có nguồn gốc và quá trình sử dụng đất như sau:
1. Thửa đất hiện nay gia đình ông H2, bà T4 đã xây nhà ở trước đây là đất thùng vũng khó canh tác, đất liền kề với diện tích đất của gia đình ông bà, thuộc địa giới hành chính của thôn H, xã L.
2. Diện tích đất 170 m² mà gia đình ông Vũ Trí H2, bà Hoàng Thị T4 đã xây dựng nhà ở là đất thùng vũng trước đây đã được thôn H giao bán trái thẩm quyền cho gia đình ông H2 năm 1994 để lấy tiền làm đường điện thắp sáng phục vụ nhân dân trong thôn. Ông H2 và bà T4 sử dụng ổn định vào mục đích đất trồng cây lâu năm từ năm 1994 đến năm 2021 thì xây dựng ngôi nhà 3 gian, và sử dụng ổn định vào mục đích đất ở từ năm 2021 đến nay. Phần diện tích 170 m² này không thuộc quỹ đất công, đất công ích do UBND xã quản lý, không lấn chiếm đất khác hay của chủ sử dụng khác; không có một trong các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 100, Luật Đất đai 2013, Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 101 Luật Đất đai, Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
3. Diện tích khoảng 170 m² gia đình ông H2, bà T4 đang quản lý sử dụng phù hợp quy hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại chưa được Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
4. Việc mua bán đất giữa gia đình ông H2 và BQL thôn H8 thời điểm từ năm 1994 hiện nay không còn lưu trữ giấy tờ, thôn và xã cũng không lưu trữ được giấy tờ và các tài liệu có liên quan.
Tại khoản 3 Điều 23 Nghị định 43/2014 ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đã được giao không đúng thẩm quyền quy định trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền đã được sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại khoản 2 Điều 20 của Nghị định này.
Trường hợp thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở hoặc công trình xây dựng khác thì diện tích còn lại không có nhà ở, công trình xây dựng được xác định là đất nông nghiệp theo hiện trạng đang sử dụng, nếu người sử dụng đất đề nghị được chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất.
Tuy nhiên, đất bắt đầu sử dụng vào mục đích đất ở, xây dựng nhà ở năm 2021, hiện pháp luật áp dụng tại thời điểm này chưa quy định các trường hợp giao bán không đúng thẩm quyền sử dụng sau ngày 01/7/2014 được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở.
* Trên khoảng 170m² (giáp thửa đất số 390, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang hiện ông Vũ Trí H2 và bà Hoàng Thị T4 đang quản lý, sử dụng có xây dựng, tồn tại tài sản gắn liền với đất: 01 ngôi nhà 03 gian loại 01 tầng nhưng chưa được cấp phép xây dựng, không đăng ký quyền sở hữu tài sản thì tài sản này tồn tại có hợp pháp không:
Tại điểm i, khoản 2, Điều 89 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật xây dựng số 62/2020/QH14 quy định các trường hợp được miễn giấy phép xây dựng gồm: Công trình xây dựng nhà cấp IV, nhà ở riêng lẻ ở nông thôn có quy mô dưới 07 tầng và thuộc khu vực không có quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu chức năng hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; công trình xây dựng nhà cấp IV nhà ở riêng lẻ ở miền núi, hải đảo thuộc khu vực không có quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu chức năng; trừ công trình, nhà ở riêng lẻ được xây dựng trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử, văn hóa.
Trước năm 2021, thửa đất có mục đích là đất trồng cây lâu năm chưa được công nhận hoặc chuyển mục đích sang đất ở, năm 2021 ông Vũ Trí H2 và bà Hoàng Thị T4 tự ý xây dựng nhà ở trên đất là vi phạm pháp luật về đất đai.
UBND huyện Y đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện của công dân theo quy định của pháp luật.
* Tại ăn bản số: 370/UBND- ĐC ngày 31/5/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND UBND xã N do ông Nguyễn Văn Đ1 – Công chức địa chính- xây dựng, đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nguồn gốc, quá trình sử dụng đất như sau :
1. Thửa đất hiện nay gia đình ông H2, bà T4 đã xây nhà ở trước đây là đất thùng vũng khó canh tác, trước kia là đất liền kề với diện tích đất của gia đình ông bà, thuộc địa giới hành chính của thôn H, xã L.
2. Diện tích đất 170 m² mà gia đình ông Vũ Trí H2, bà Hoàng Thị T4 đã xây dựng nhà ở là đất thùng vũng trước đây đã được thôn H bán trái thẩm quyền vào mục đích đất ở cho gia đình ông H2 năm 1994 để lấy tiền làm đường điện thắp sáng phục vụ nhân dân trong thôn. Ông H2 và bà T4 sử dụng ổn định vào mục đích đất trồng cây lâu năm từ năm 1994 đến năm 2021 thì xây dựng ngôi nhà 3 gian, và sử dụng ổn định vào mục đích đất ở từ năm 2021 đến nay. Phần diện tích 170 m² này không thuộc quỹ đất công, đất công ích do UBND xã quản lý, không lấn chiếm đất khác hay của chủ sử dụng khác; không có một trong các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 100, Luật Đất đai 2013, Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 101 Luật Đất đai, Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
4. Diện tích khoảng 170m² gia đình ông H2, bà T4 đang quản lý sử dụng phù hợp quy hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại chưa cấp được giấy chứng nhận QSDĐ.
5. Việc mua bán đất giữa gia đình ông H2 và BQL thôn H8 thời điểm từ năm 1994 nên hiện nay không còn lưu trữ giấy tờ gì vì thời gian dài và đã trải qua nhiều nhiệm kỳ Ban quản lý thôn.
Trên đây là trả lời của UBND xã L về việc xác định Nguồn gốc đất, việc sử dụng đất có hợp pháp hay không việc xử dụng đất có vi phạm quy hoạch hay không, có thể xem xét giao quyền sử dụng đất hay không để toà án nhân dân huyện nắm được.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Dương Thị L3: Luật sư Dương Văn Q trình bày:
Ông Dương Văn Q thống nhất với lời khai trình bày của chị Bùi Thị T1.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị T3 (vợ anh Lưu Xuân K), bà Hoàng Thị B, ông Vũ Trí L1, anh Tạ Văn Đ, chị Vũ Thị H3 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị Nguyễn Thị T3, bà Hoàng Thị B, ông Vũ Trí L1, anh Tạ Văn Đ, chị Vũ Thị H3 không đến Tòa án để làm việc với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị T3, bà Hoàng Thị B, ông Vũ Trí L1, anh Tạ Văn Đ, chị Vũ Thị H3 vắng mặt.
Toà án đã mở phiên hoà giải về con chung, tài sản, công nợ nhưng không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn có văn bản giữ nguyên ý kiến về việc giải quyết vụ án, không có chứng cứ gì khác giao nộp cho Toà án và cũng không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.
Sau phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án chưa đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị: Áp dụng: khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 BLTTDS, Điều 9, Điều 14, Điều 16, Điều 33 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Bùi Thị T1 và anh Vũ T8 là vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Vũ Trí H, ông Lương Đức V, bà Hoàng Thị B, ông Nguyễn Văn T2, bà Vũ Thị L, ông Vũ Trí L1, bà Nguyễn Thị H1, anh Lưu Xuân K, chị Nguyễn Thị T3, anh Lưu Tuấn V1, ông Vũ Trí H2, bà Hoàng Thị T4, anh Nguyễn Văn T5, chị Nguyễn Thị L2, anh Tạ Văn Đ, chị Vũ Thị H3, anh Vũ Trí H4, anh Vũ Trí C, bà Phòng Thị N, ông Nguyễn Văn Đ1 đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt; Bà Phòng Thị N có đơn xin vắng mặt. Nên Toà án xét xử vắng mặt các đương sự này theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 01 khoản 3 Điều 228 BLTTDS.
Tòa án đã ra các quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ nhưng ngoài những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì phía nguyên đơn, bị đơn, các đương sự khác không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác nên phải chịu hậu quả pháp lý.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Ngày 06/3/2024 chị Bùi Thị T1 làm đơn khởi kiện. TAND huyện Yên Dũng căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35. điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS để giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Công văn số: 59/UBND –TPHT ngày 14/6/2022 của UBND xã L, huyện Y phù hợp lời khai của chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H nên có căn cứ xác định: chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H đã tự nguyện chung sống với nhau từ tháng 12/1995 tại: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y. Sau ngày cưới thì chị T1 về làm dâu nhà anh H. Chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H đều xác định không đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y. Chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H đã phát sinh mâu thuẫn, tình cảm không còn và không còn sống chung với nhau từ năm 2023 đến nay. Các bên không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nhưng chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp và khoản 1 Điều 9, Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết và không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H.
[4] Về con chung: Chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H xác nhận có 02 con chung là Vũ Trí H5, sinh ngày 02/8/1997 và Vũ Anh H6, sinh ngày 18/8/2006. Hiện nay cháu H5 và cháu H6 đã trưởng thành. Chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H không yêu cầu giải quyết về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung:
- Chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H đều thừa nhận tài sản chung giữa chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H phát sinh trong thời kỳ ở chung và được bố mẹ chồng là ông H2, bà T4 tặng cho là: diện tích 236m2, thửa đất số 390, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và sang tên sổ đỏ đính chính trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử đất số BX 500413 mang tên anh là Vũ Trí H, Bùi Thị T1. Trên đất này thì anh H, chị T1 xây 01 cửa hàng có diện tích 144m2 (chiều dài 16m x chiều rộng 9m). Đến ngày 30/5/2024, anh H, chị T1 tách làm 02 thửa là: Thửa đất số 483, tờ bản đồ số 5, diện tích 85m2 và thửa đất số 484, tờ bản đồ số 5, diện tích 147,2m2. Tổng diện tích là 232,2 m2 (236m2 sổ đỏ - 232,2m2 tổng diện tích khi tách thành 02 thửa = 3,8m2 bị thiếu so với sổ đỏ), địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đến ngày 10/6/2024 thì anh H, chị T1 chuyển nhượng cho anh Lưu Tuấn V1 diện tích 85m2, thửa đất số 483, tờ bản đồ số 5 với giá 1.180.000.000 đồng và đã sang tên sổ đỏ mang tên anh Lưu Tuấn V1. (không có tranh chấp gì diện tích đã bán) và anh H, chị T1 đã tháo dỡ 01 nửa cửa hàng để cho anh Lưu Tuấn V1 xây tường ngăn cách với diện tích đất còn lại đo đạc thực tế của anh H, chị T1 là 148,2m2. Diện tích đo đạc thực tế còn lại mà anh H, chị T1 đều xác định là tài sản chung của anh H, chị T1 là 148,2m2 đất ở (85m2 đã bán cho anh V1 + 148,2m2 diện tích đo đạc thực tế còn lại = 233,2m2 của chị T1, anh H không có tranh chấp (Vẫn bị thiếu 2,8m2 so với sổ đỏ ban đầu là 236m2), thửa đất số 484, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thì nay anh H, chị T1 đều đề nghị chia đôi 148,2m2 đất ở bằng hiện vật đất, chia cho anh H 74,1m2 đất trị giá 1.037.400.000đồng và chia cho chị T1 74,1m2 đất trị giá 1.037.400.000đồng và tài sản gắn liền với đất cho anh H, chị T1. Đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 BLTTDS và thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự về đề nghị chia đôi tài sản này. Mặt khác, từ khi được tặng cho đất thì các bên không có khiếu nại gì việc cấp giấy CNQSDĐ mang tên chị T1, anh H và tuy nguồn gốc hình thành tài sản được tặng cho từ phía anh H nhưng chị T1 cũng có công sức tạo lập, duy trì phát triển tài sản chung từ năm 2014 đến nay nên HĐXX thấy chị T1, anh H có công sức tạo lập, duy trì phát triển tài sản chung là đất và tài sản trên đất là ngang nhau. Nên chấp nhận yêu cầu này của chị Bùi Thị T1 là phù hợp ý kiến của anh Vũ Trí H và một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cụ thể:
Chia chị Bùi Thị T1 được quyền quản lý, sử dụng diện tích 74,1m2 đất ở, thửa đất số 484, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang được hình thành bởi các điểm 6, 7, 10, 11 (Có sơ đồ kèm theo) trị giá theo định giá ngày 15/7/2024 là: 74,1m2 đất ở x 14.000.000 đồng/m2 = 1.037.400.000 đồng trị giá đất chị T1 được chia.
Chia cho anh Vũ Trí H được quyền quản lý, sử dụng diện tích 74,1m2 đất ở, thửa đất số 484, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang được hình thành bởi các điểm 4, 5, 6, 11 (Có sơ đồ kèm theo), trị giá theo định giá ngày 15/7/2024 là: 74,1m2 đất ở x 14.000.000 đồng/m2 = 1.037.400.000 đồng trị giá đất anh H được chia là phù hợp Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Chia cho chị Bùi Thị T1 được sở hữu: 01 nhà cấp 4 (và là ki-ốt loại A), có diện tích 57m² kết cấu móng gạch, tường xây bao quanh, mái lợp tôn, cửa đi bằng sát gắn liền với thửa đất số 484, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, có giá trị theo định giá ngày 15/7/2024 là 57m2 x 910.000 đồng/m2 x 13 x 6,67% = 44.976.477 đồng; có giá trị theo định giá ngày 15/7/2024 là: 01 sân gạch 13,9m2 x 140.000 đồng/m2 x 18 x 5% = 1.751.400 đồng (Có sơ đồ kèm theo);
Chia cho anh Vũ Trí H được sở hữu: 01 ki-ốt loại B, có diện tích 53,7m² kết cấu móng gạch, tường xây bao quanh, mái lợp tôn, cửa đi bằng sắt, có giá trị theo định giá ngày 15/7/2024 là 53,7m2 x 530.000 đồng/m2 x 7 x 6,67% = 13.288.440 đồng; 01 sân gạch có giá trị theo định giá ngày 15/7/2024 là: 14,2m2 x 140.000 đồng/m2 x 18 x 5% = 1.789.200 đồng (Có sơ đồ kèm theo);
Chị T1 có nghĩa vụ trích chia chênh lệch tài sản trên đất cho anh H với số tiền là 15.825.119 đồng.
- Đối với 01 ngôi nhà có diện tích 159,2m2 đất nằm trên diện tích 530,8m2 thuộc thửa đất số 349, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có kết cấu móng bê tông cốt thép, tường xây gạch chỉ xung quanh nền lát gạch Granit 800x800mm, cửa đi bằng gỗ, cửa sổ nhôm hệ, tường chát lăn sơn hoàn thiện, mái lợp ngói, có hệ thống cấp điện nước đầy đủ, có tiện nghi các phòng ngủ, phòng sinh hoạt chung, phòng vệ sinh, nhà bếp, có giá trị theo định giá ngày 15/7/2024 là: 159,2m2 x 6.860.000 đồng/m2 x 23 x 4% = 1.004.743.040đồng, HĐXX thấy: Căn cứ vào Văn bản số: 370/UBND- ĐC ngày 31/5/2024 của UBND UBND xã L (BL 171) và Bản trình bày quan điểm ghi ngày 05/6/2024 của UBND huyện Y (BL 173) là cơ quan có thẩm quyền đều xác định: Trước năm 2021, thửa đất này có mục đích là đất trồng cây lâu năm chưa được công nhận hoặc chuyển mục đích sang đất ở, chưa được cấp giấy CNQSDĐ, năm 2021 ông Vũ Trí H2 và bà Hoàng Thị T4 tự ý xây dựng nhà ở trên đất là vi phạm pháp luật về đất đai. Nên tài sản là 01 ngôi nhà biệt thự có diện tích 159,2m2 đất nằm trên diện tích 530,8m2 thuộc thửa 349, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và tài sản gắn liền với diện tích đất 159,2m2 này không được phép tồn tại (anh H, chị T1, ông H2 đều xác định: chị Bùi Thị T1, anh Vũ Trí H đóng góp 1.000.000.000 đồng để xây dựng nhà này) vì trái pháp luật về đất đai nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị T1 về việc chia đôi giá trị nhà này cho chị T1 và anh H mỗi người một nửa. Đối với ông Vũ Trí H2, bà Hoàng Thị T4, anh Vũ Trí H4, anh Vũ Trí C trình bày góp tiền xây nhà này nhưng không có yêu cầu độc lập nên không đặt ra xem xét.
Sau khi trích chia chênh lệch tài sản thì:
Tổng giá trị tài sản chị Bùi Thị T1 được chia, được hưởng là 1.068.302.758đồng
Tổng giá trị tài sản anh Vũ Trí H được chia, được hưởng là 1.068.302.758đồng
Đối với; 01 Nhà bếp có diện tích 34,2m², có kết cấu móng tường gạch bao quanh sơn chát hoàn thiệt, mái lợp tôn, cửa đi cửa sổ bằng nhôm hệ; Bán mái có diện tích 24,65m², làm năm 2022; Tường xây gạch chỉ 110 bổ trụ, chiều dài 15,5m, chiều cao 2,1m; Tường xây gạch chỉ 220, chiều dài 17,5m, chiều cao 1,7m; Sân lát gạch lá nem, lát năm 2022 gắn liền với thửa đất số 349, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang chưa được công nhận hoặc chuyển mục đích sang đất ở, chưa được cấp giấy CNQSDĐ thì những tài sản này không được phép tồn tại trên đất vì vi phạm pháp luật về đất đai như nêu trên và không có yêu cầu hoặc tranh chấp nên không đặt ra xem xét.
Ngoài ra chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H không yêu cầu hoặc đề nghị gì khác nên không đặt ra xem xét.
[6] Theo Biên bản định giá tài sản ngày 15/7/2024 thì:
- Đất thuộc thửa đất số 483 tờ bản đồ số 5, diện tích 85m²tại địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
- Đất ở tranh chấp thuộc thửa đất số 484 tờ bản đồ số 5, diện tích 148,2m²tại địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
- Giá đất theo giá Nhà nước là 6.000.000đồng/m² (đất ở).
- Giá đất theo giá thị trường tại thời điểm định giá là 14.000.000đồng/m².
- Tài sản trên đất gồm:
- 01 nhà cấp 4 (và là ki-ốt loại A), có diện tích 57m² kết cấu móng gạch, tường xây bao quanh, mái lợp tôn, cửa đi bằng sát gắn liền với thửa đất số 484, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, có giá trị theo định giá ngày 15/7/2024 là 57m2 x 910.000 đồng/m2 x 13 x 6,67% = 44.976.477 đồng; có giá trị theo định giá ngày 15/7/2024 là: 01 sân gạch 13,9m2 x 140.000 đồng/m2 x 18 x 5% = 1.7541.400 đồng;
- 01 ki-ốt loại B, có diện tích 53,7m² kết cấu móng gạch, tường xây bao quanh, mái lợp tôn, cửa đi bằng sắt, có giá trị theo định giá ngày 15/7/2024 là 53,7m2 x 530.000 đồng/m2 x 7 x 6,67% = 13.288.440 đồng; 01 sân gạch có giá trị theo định giá ngày 15/7/2024 là: 14,2m2 x 140.000 đồng/m2 x 18 x 5% = 1.789.200 đồng;
- 01 ngôi nhà có diện tích 159,2m2 đất xây dựng 2022, nằm trên diện tích 530,8m2 thuộc thửa đất số 349, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có kết cấu móng bê tông cốt thép, tường xây gạch chỉ xung quanh nền lát gạch Granit 800x800mm, cửa đi bằng gỗ, cửa sổ nhôm hệ, tường chát lăn sơn hoàn thiện, mái lợp ngói, có hệ thống cấp điện nước đầy đủ, có tiện nghi các phòng ngủ, phòng sinh hoạt chung, phòng vệ sinh, nhà bếp đầy đủ tiện nghi chất lượng tốt, có giá trị là: 159,2m2 x 6.860.000 đồng/m2 x 23 x 4% = 1.004.743.040đồng.
- 01 Nhà bếp có diện tích 34,2m² xây dựng năm 2022 có kết cấu móng tường gạch bao quanh sơn chát hoàn thiệt, mái lợp tôn, cửa đi cửa sổ bằng nhôm hệ; có giá trị là 37.958.000đồng;
- Bán mái có diện tích 24,65m², làm năm 2022, có giá trị là 1. 479.000đồng;
- Tường xây gạch chỉ 110 bổ trụ, chiều dài 15,5m, chiều cao 2,1m, có giá trị là 11.197.000đồng;
- Tường xây gạch chỉ 220, chiều dài 17,5m, chiều cao 1,7m, có giá trị là 13.804.000đồng;
- Sân lát gạch lá nem 40x40cm diện tích khoảng 274,7m², lát năm 2022; có giá trị là 34.612.000đồng;
[7] Về nghĩa vụ chung vợ chồng về tài sản: Chị Bùi Thị T1 xác định vay để xây nhà và cửa hàng gồm: Vay ông Lương Đức V, bà Hoàng Thị B 100.000.000 đồng; vay ông Nguyễn Văn T2, bà Vũ Thị L 100.000.000 đồng; vay ông Vũ Trí L1, bà Nguyễn Thị H1 137.000.000 đồng; vay anh Nguyễn Văn T5, chị Nguyễn Thị L2 200.000.000 đồng; vay anh Tạ Văn Đ, chị Vũ Thị H3 50.000.000 đồng. Những khoản vay này thì chị T1 đứng ra vay để xây dựng nhà và cửa hàng. Anh H không tham gia giao dịch nhưng đồng ý để chị T1 đi vay phục vụ việc xây nhà, cửa hàng. Chị T1 đề nghị anh Vũ Trí H và chị T1 mỗi người trả ½ các khoản nợ này. HĐXX thấy:
Chị Bùi Thị T1 xác định vay ông Nguyễn Văn T2, bà Vũ Thị L 100.000.000 đồng. Ngày 04/5/2024 ông Nguyễn Văn T2 làm đơn khởi kiện nhưng không có đơn miễn nộp tạm ứng án phí. Ngày 24/5/2024 Tòa án đã ra Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí số 138/TB- TA theo tiểu mục 12 mục IV Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020. Nhưng ông T2 không nộp tạm ứng án phí nên Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện cho ông T2 theo quy định và không đặt ra xem xét, giải quyết.
Chị Bùi Thị T1 xác định vay bà Nguyễn Thị H1, ông Vũ T9 137.000.000 đồng. Ngày 14/5/2024 bà Nguyễn Thị H1 làm đơn khởi kiện nhưng không có đơn miễn nộp tạm ứng án phí. Ngày 24/5/2024 Tòa án đã ra Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí số 139/TB- TA theo tiểu mục 12 mục IV Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020. Nhưng bà H1 không nộp tạm ứng án phí nên Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện cho bà H1 theo quy định và không đặt ra xem xét, giải quyết.
Chị Bùi Thị T1 xác định: vay ông Lương Đức V, bà Hoàng Thị B 100.000.000 đồng; vay anh Nguyễn Văn T5, chị Nguyễn Thị L2 200.000.000 đồng. Nhưng nay, ông Lương Đức V, bà Hoàng Thị B, anh Nguyễn Văn T5, chị Nguyễn Thị L2 không có yêu cầu hoặc tranh chấp nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Chị Bùi Thị T1 xác định: vay anh Tạ Văn Đ, chị Vũ Thị H3 50.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần và yêu cầu anh Tạ Văn Đ, chị Vũ Thị H3 cung cấp tài liệu, chứng cứ. Nhưng anh Đ, chị H3 không đến làm việc và không cung cấp tài liệu, chứng cứ. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau này giữa các bên có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[8] Tại Biên bản hòa giải ngày 05/8/2024: Anh H đề nghị trích chia cho chị T1 với số tiền là 222.020.000 đồng n hưng chị T1 không đồng ý. Tại phiên tòa, anh H vắng mặt nên không có căn cứ xem xét để anh H trích chia cho chị T1 với số tiền là 222.020.000 đồng này.
[9] Chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H xác định các con không liên quan đến tài sản chung và không có công sức tôn tạo, đóng góp gì với khối tài sản của chung nên không đưa tham gia tố tụng là đúng.
[10] Giữa chị Bùi Thị T1, anh Vũ Trí H, anh Lưu Xuân K, chị Nguyễn Thị T3, anh Lưu Tuấn V1 không có tranh chấp gì về việc chuyển nhượng diện tích 85m2, thửa đất số 483, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nên không đặt ra xem xét.
[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật tương ứng phần tài sản được chia, được hưởng theo điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[12] Chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H mỗi người phải chịu ½ số tiền 1.900.000đồng tiền chi phí định giá tài sản theo khoản 01 Điều 165 của BLTTDS và chịu ½ số tiền 9.000.000đồng tiền chi phí thẩm định đo đạc bằng máy thửa đất tranh chấp theo khoản 01 Điều 157 của BLTTDS. Do chị Bùi Thị T1 đã nộp tổng số tiền 10.900.000đồng tiền tạm ứng chi phí định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ nên cần buộc anh Vũ Trí H phải trả lại cho Bùi Thị T1 ½ chi phí định giá, xem xét, thẩm định là 5.450.000đồng. Chị T1 đã nộp đủ chi phí định giá, thẩm định tài sản.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, khoản 1 khoản 2 khoản 3 Điều 33; Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm d khoản 1 Điều 47, Điều 53, khoản 4 Điều 54 BLDS; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35. điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a điểm b khoản 5 điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H là vợ chồng.
2. Về con chung: Chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H có 02 con chung là Vũ Trí H5, sinh ngày 02/8/1997 và Vũ Anh H6, sinh ngày 18/8/2006. Hiện nay cháu H5 và cháu H6 đã trưởng thành. Chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H không yêu cầu giải quyết về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
3. Về tài sản chung:
- Chia chị Bùi Thị T1 được quyền quản lý, sử dụng diện tích 74,1m2 đất ở, thửa đất số 484, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang được hình thành bởi các điểm 6, 7, 10, 11 (Có sơ đồ kèm theo), trị giá là 1.037.400.000đồng.
- Chia cho anh Vũ Trí H được quyền quản lý, sử dụng diện tích 74,1m2 đất ở, thửa đất số 484, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang được hình thành bởi các điểm 4, 5, 6, 11 (Có sơ đồ kèm theo), trị giá là 1.037.400.000đồng.
- Chia cho chị Bùi Thị T1 được sở hữu: 01 nhà cấp 4 (và là ki-ốt loại A), có diện tích 57m² kết cấu móng gạch, tường xây bao quanh, mái lợp tôn, cửa đi bằng sát gắn liền với thửa đất số 484, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, trị giá là 44.976.477 đồng; 01 sân gạch 13,9m2 trị giá là 1.751.400 đồng (Có sơ đồ kèm theo);
- Chia cho anh Vũ Trí H được sở hữu: 01 ki-ốt loại B, có diện tích 53,7m² kết cấu móng gạch, tường xây bao quanh, mái lợp tôn, cửa đi bằng sắt, có trị giá là 13.288.440 đồng; 01 sân gạch 14,2m2 có trị giá là 1.789.200 đồng (Có sơ đồ kèm theo);
4.Chị Bùi Thị T1 có nghĩa vụ trích chia chênh lệch tài sản trên đất cho anh Vũ Trí H với số tiền là 15.825.119 đồng.
5. Không chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị T1 về: yêu cầu chia đôi giá trị tài sản chung cho chị Bùi Thị T1 và anh Vũ Trí H mỗi người ½ giá trị tài sản là: 01 ngôi nhà có diện tích 159,2m2 đất nằm trên diện tích 530,8m2 thuộc thửa đất số 349, tờ bản đồ số 5, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang được hình thành bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 9, 10, 11, 13 (có sơ đồ kèm theo), có kết cấu móng bê tông cốt thép, tường xây gạch chỉ xung quanh nền lát gạch Granit 800x800mm, cửa đi bằng gỗ, cửa sổ nhôm hệ, tường chát lăn sơn hoàn thiện, mái lợp ngói, có hệ thống cấp điện nước đầy đủ, có tiện nghi các phòng ngủ, phòng sinh hoạt chung, phòng vệ sinh, nhà bếp có giá trị là 1.004.743.040đồng.
6. Về nghĩa vụ chung vợ chồng về tài sản: Các khoản mà chị Bùi Thị T1: Vay ông Lương Đức V, bà Hoàng Thị B 100.000.000 đồng; vay ông Nguyễn Văn T2, bà Vũ Thị L 100.000.000 đồng; vay ông Vũ Trí L1, bà Nguyễn Thị H1 137.000.000 đồng; vay anh Nguyễn Văn T5, chị Nguyễn Thị L2 200.000.000 đồng; vay anh Tạ Văn Đ, chị Vũ Thị H3 50.000.000 đồng thì không đặt ra xem xét, giải quyết. Sau này giữa các bên có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
7. Án phí: Chị Bùi Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng và chịu 44.049.082 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 37.300.000 đồng theo biên lai số: 0005582 ngày 25/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; chị Bùi Thị T1 còn phải nộp 6.749.082 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Vũ Trí H phải chịu 44.049.082 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
8. Phần chi phí thẩm định, định giá tài sản:
Do chị Bùi Thị T1 đã nộp tổng số tiền 10.900.000đồng tiền tạm ứng chi phí định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ nên cần buộc anh Vũ Trí H phải trả lại cho chị Bùi Thị T1 là 5.450.000đồng chi phí định giá, xem xét, thẩm định này. Chị Bùi Thị T1 đã nộp đủ chi phí định giá, thẩm định tài sản.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ánh Dương |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Bùi Thị T1 đề nghị không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Vũ Trí H
