|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI Bản án số: 32/2024/HNGĐ - ST Ngày: 09/8/2024 V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân và ông Đặng Viết Hùng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2024/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 04 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2024/QÐST – HNGĐ ngày 16/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị C – sinh năm: 1987 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Danh Q – sinh năm: 1985 (Vắng mặt)
Đều HKTT: thôn G, xã V, huyện Ứ, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị Vũ Thị C trình bày: Về tình cảm: chị kết hôn với anh Nguyễn Danh Q ở V, Ứ. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, năm 2005.
Quá trình chung vợ chồng chung sống: Sau khi kết hôn vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là anh chị không hiểu nhau, không có cùng quan điểm sống, đặc biệt vài năm trở lại đây, anh Q có có mối quan hệ ở ngoài. Chị đã khuyên bảo rất nhiều nhưng anh không thay đổi. Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị luôn xảy ra mâu thuẫn. Chị và các con đã cố gắng chịu đựng để gia đình được hòa thuận, hạnh phúc nhưng không có kết quả. Do cuộc sống áp lực, mệt mỏi nên anh chị sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Chị đưa các con về nhà bố mẹ đẻ ở T để sinh sống cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, anh chị không ai liên lạc với ai, anh Q cũng không hỏi han, quan tâm gì đến các con. Nay chị nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, nên mong muốn ly hôn để sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: anh chị có 04 con chung là Nguyễn Thị Thúy N – sinh ngày: 12/3/2006; Nguyễn Thị Thúy N1 – sinh ngày: 02/5/2010; Nguyễn Thị Ngọc V – sinh ngày: 17/10/2012; Nguyễn Ngọc T – sinh ngày: 18/2/2019. Hiện tại, cháu N đã trưởng thành, khỏe mạnh, không đề nghị Tòa án giải quyết. Con cháu N1, V, T hiện vẫn đang ở với chị từ khi vợ chồng sống ly thân năm 2019. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi 03 con chung và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con. Vì từ trước đến giờ chỉ có một mình chị nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con, anh Q không hỏi han gì, hiện tại các cháu đang theo học ở T, cuộc sống ổn định nên mong muốn được nuôi con để không bị xáo trộn.
Về tài sản, công sức, công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: chị C đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn anh Nguyễn Danh Q đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa làm việc. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh. Tuy nhiên, anh Q vẫn không đến Tòa án làm việc do đó không có quan điểm trình bày.
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã Viên Nội xác định: chị C và anh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, T, ngày 16/8/2005. Sau khi kết hôn, cuộc sống của anh chị hòa thuận không thấy điều tiếng gì. Theo nắm bắt tại địa phương, vài năm gần đây, anh Q và chị C xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân. Nguyên nhân cụ thể là gì thì địa phương không nắm rõ. Trong thời gian chung sống, anh chị có 04 con chung là cháu Nguyễn Thị Phương N2 – sinh ngày: 12/3/2006; Nguyễn Thị Thúy N1 sinh ngày: 02/5/2010; Nguyễn Thị Ngọc V – sinh ngày: 17/10/2012; Nguyễn Ngọc T – sinh ngày: 18/02/2019. Hiện tại, cháu Phương N2 đã trưởng thành, khỏe mạnh; còn cháu Thúy N1, Ngọc V và Ngọc T đang ở với chị C ở T. Quan điểm của chính quyền địa phương: đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và con nhỏ.
Tại phiên toà, chị C có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên ý kiến không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác. Anh Q vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Viện kiểm sát về thủ tục tố tụng: Qua việc kiểm sát hồ sơ và tại phiên tòa thấy đều đúng và đầy đủ về quan hệ pháp luật, về thẩm quyền, về người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản, thời hạn chuẩn bị xét xử, đưa vụ án ra xét xử. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C đối với anh Q. Về con chung: cháu Nguyễn Thị Phương N2 đã trưởng thành, khỏe mạnh không đề nghị Tòa án giải quyết. Giao cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy N1, Nguyễn Thị Ngọc V; Nguyễn Ngọc T. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn Danh Q. Về tài sản, công sức, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Vũ Thị C đã làm đơn ly hôn theo mẫu và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình có bị đơn là anh Nguyễn D Quyền cư trú tại thôn G, xã V, huyện Ứ, TP . nên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, triệu tập anh Nguyễn Danh Q đến toà án làm việc theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự; Tại phiên toà hôm nay, chị C có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Q mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa xét xử nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
[2] Về hôn nhân: Chị C và anh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống chung của anh chị không hòa thuận, hạnh phúc. Nguyên nhân theo chị C trình bày là anh chị không hợp nhau, không có cùng quan điểm sống, do mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, mỗi người một cuộc sống. Nay chị C nhận thấy không còn tình cảm với anh Q nên đã làm đơn xin ly hôn. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy, anh Q chị C mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra va chạm, sống ly thân nhiều năm nay. Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị C là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[3] Về con chung: chị C và anh Q có 04 con chung là là cháu Nguyễn Thị Phương N2 – sinh ngày: 12/3/2006; Nguyễn Thị Thúy N1 – sinh ngày: 02/5/2010; Nguyễn Thị Ngọc V – sinh ngày: 17/10/2012; Nguyễn Ngọc T – sinh ngày: 18/02/2019. Chị C có quan điểm: cháu Phương N2 đã trưởng thành, khỏe mạnh không đề nghị giải quyết, còn 03 cháu Thúy N1, Ngọc V, Ngọc T chị xin được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc 03 con. Quan điểm của cháu Thúy N1, Ngọc V: xin được ở với mẹ Ca để có cuộc sống ổn định. Anh Q không có quan điểm trình bày. Xét nguyện vọng của các đương sự, nguyện vọng của cháu Ngọc V, Thúy N1 và tình hình thực tế cuộc sống của các con. Hội đồng xét xử nhận thấy, đối với cháu Phương N2 hiện đã trưởng thành, khỏe mạnh nên không đặt ra giải quyết. Đối với cháu Thúy N1, Ngọc V và Ngọc T thì thấy từ khi anh chị sống ly thân năm 2019, ba cháu đều ở với chị C bên T, hiện các cháu dang sinh sống và học tập ổn định cùng mẹ. Anh Q hiện không có mặt tại địa phương, không có quan điểm về việc nuôi con. Do đó, cần giao 03 con chung cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị C không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Q là có căn cứ.
[4] Về tài sản, công sức và công nợ: chị C không đề nghị Tòa án giải quyết; anh Q không có quan điểm trình bày nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Trường hợp sau này các đương sự có yêu cầu đề nghị thì sẽ giải quyết tại vụ án khác.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị C phải nộp toàn bộ án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56; 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B:
- Chị Vũ Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Danh Q;
- Về con chung: Chị C và anh Q có 04 con chung là cháu Nguyễn Thị Phương N2 – sinh ngày: 12/3/2006; Nguyễn Thị Thúy N1 – sinh ngày: 02/5/2010; Nguyễn Thị Ngọc V – sinh ngày: 17/10/2012; Nguyễn Ngọc T – sinh ngày: 18/02/2019. Hiện tại, cháu Phương N2 đã trưởng thành, khỏe mạnh nên không đặt ra giải quyết. Sau khi ly hôn, giao chị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Thúy N1, Ngọc V và Ngọc T cho đến khi con chung trưởng thành, khoẻ mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Q cho đến khi con chung trưởng thành, khoẻ mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về quyền thăm hỏi con chung: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”
“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”
- Về tài sản, công sức, công nợ chung: Chị C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Trường hợp sau này, các đương sự có yêu cầu đề nghị thì sẽ giải quyết tại vụ án khác.
- Về án phí: Chị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp tại Biên lai thu số 0011668 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Minh |
Bản án số 32/2024/HNGĐ - ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
