|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày 09-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Vấn và bà Trần Thị Phương Thảo.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Hoàng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 và các quyết định hoãn phiên toà số 36/2024/HSST-QĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 và số 52/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Thiên T, (tên gọi khác: N), sinh năm 1999 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; tạm trú: tổ D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C, sinh năm 1966 và bà Phan Thị L, sinh năm 1967; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến ngày 18/03/2024 được tại ngoại; đang tại ngoại - có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Lữ Thị Thanh H; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 30 A 14, A, quận S, thành phố Đà Nẵng; nơi ở: phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.
Chị Lữ Thị Mỹ H1; địa chỉ: tổ C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị H2; địa chỉ: tổ C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – có đơn xin xét xử vắng mặt.
Anh Trần Thiên Đ; địa chỉ: tổ E, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - có đơn xin xét xử vắng mặt.
Anh Vũ Xuân T1; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ G, ấp D, T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nơi ở: tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - có đơn xin xét xử vắng mặt.
Chị Phạm Thị T2; địa chỉ: tổ D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - có đơn xin xét xử vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị L1; địa chỉ: tổ H, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.
Anh Nguyễn Hồng N1; địa chỉ: tổ C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.
Anh Lê Kim H3; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi ở: tổ D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ khoảng tháng 3/2023, Phan Thiên T bắt đầu hoạt động cho vay tiền góp hàng ngày và cho vay tiền thu lãi hàng tháng, số tiền cho vay giao động từ 3.000.000đ đến 50.000.000đ. T sử dụng số điện thoại 0782.503.xxx đăng ký tài khoản Zalo tên “La La”; tài khoản Facebook tên “Nô P” và tài khoản ngân hàng N2 số 66625.9999 để thực hiện việc trao đổi, giao dịch liên quan đến hoạt động cho vay. Khi vay tiền người vay phải viết giấy nợ, đưa giấy tờ tùy thân cho T giữ và phải trả lãi suất từ 5.000đ – 8.000đ/triệu/ngày, tương đương từ 182,5%/năm đến 292%/năm, cao hơn gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Sau khi người vay trả tiền gốc và lãi, T lấy số tiền này tiếp tục cho người khác vay. Với hình thức như trên, trong thời gian từ tháng 3/2023 đến ngày 18/01/2024, Phan Thiên T đã cho 09 cá nhân vay tiền, cụ thể như sau:
-
Chị Nguyễn Thị H2 (sinh năm: 2000, trú tại: Tổ C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) vay T 02 lần với tổng số tiền vay là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) mức lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). T đã thu của chị H2 36.000.000đ tiền lãi. Trong đó, số tiền lãi pháp luật cho phép là 3.944.880đ, tiền lãi trên 20%/năm là 32.055.120đ. Chị H2 đã trả T 40.000.000đ tiền gốc, còn nợ lại 30.000.000đ tiền gốc và 9.000.000đ tiền lãi tính đến ngày 18/01/2024. Tổng số tiền lãi chị H2 phải trả cho T tính đến ngày 18/01/2024 là 45.000.000đ. Trong đó, tiền lãi pháp luật cho phép là 4.931.100đ, tiền lãi trên 20%/năm mà chị H2 phải trả là 40.068.900đ, cụ thể như sau:
Lần 01: Vào tháng 3/2023, chị H2 vay T số tiền 40.000.000đ. Khi vay, hai bên không viết giấy vay tiền nhưng thỏa thuận thời hạn vay là 03 tháng với lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Chị H2 đã trả cho T toàn bộ số tiền gốc và 18.000.000đ tiền lãi.
Lần 02: Vào ngày 18/7/2023, chị H2 tiếp tục vay Trúc số tiền 30.000.000đ khi vay cũng không viết giấy vay tiền nhưng thỏa thuận thời hạn vay là 04 tháng với lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm), chị H2 đã đóng cho T 18.000.000đ tiền lãi. Chị H2 nợ lại Trúc 30.000.000đ tiền gốc và 9.000.000đ tiền lãi tính đến ngày 18/01/2024 (BL 77-114; 193-198).
-
Chị Lữ Thị Mỹ H1 (sinh năm: 1989, trú tại: tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) vay bị cáo T 03 lần với tổng số tiền vay là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) mức lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Chị H1 đã trả cho T 80.000.000đ tiền gốc và 30.000.000đ tiền lãi. Trong đó, tiền lãi pháp luật cho phép là 3.287.400đ và tiền lãi trên 20%/năm là 26.712.600đ, chị H1 còn nợ Trúc 4.800.000đ tiền lãi và 20.000.000đ tiền gốc. Tổng số tiền lãi chị H1 phải trả cho T tính đến ngày 18/01/2024 là 34.800.000đ. Trong đó, tiền lãi pháp luật cho phép là 3.813.384đ, tiền lãi trên 20%/năm mà chị H1 phải trả là 30.986.616đ, cụ thể:
Lần 01: Ngày 21/05/2023, chị H1 vay T số tiền 50.000.000đ. Khi vay, T yêu cầu chị H1 viết giấy vay tiền (không thể hiện lãi suất), thời hạn vay là 02 tháng với lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Chị H1 đã trả cho T toàn bộ tiền gốc và 15.000.000đ tiền lãi.
Lần 02: Ngày 22/05/2023, chị H1 vay T số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), T đưa giấy vay tiền ngày 21/05/2023 để chị H1 viết nội dung vay thêm tiền, thời hạn vay là 02 tháng, lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Chị H1 đã trả đủ số tiền gốc cho T và 9.000.000đ tiền lãi.
Lần 03: Ngày 01/10/2023, chị H1 tiếp tục vay T số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nhưng không viết giấy vay tiền, thời hạn vay là 03 tháng với lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm), chị H1 đã đóng tiền lãi cho T tháng 10,11/2023 với số tiền 6.000.000đ, chị H1 còn nợ T 20.000.000đ tiền gốc và tiền lãi tháng 12/2023, tháng 01/2024 tính đến ngày 18/01/2024 là 4.800.000đ (BL 77-114; 138-139)
-
Anh Trần Thiên Đ (sinh năm: 1997, trú tại Tổ E, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) vay T 03 lần với tổng số tiền vay là 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) với mức lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Anh Đ đã trả cho T toàn bộ số tiền gốc và 11.550.000đ tiền lãi. Trong đó, tiền lãi pháp luật cho phép là 1.265.649đ; tiền lãi trên 20%/năm là 10.284.351đ, cụ thể:
Lần 01: Ngày 30/5/2023, anh Đ vay T số tiền 10.000.000đ nhưng không viết giấy vay tiền, thời hạn vay là 02 tháng, với mức lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Anh Đ đã trả đủ số tiền gốc và 3.000.000đ tiền lãi cho T.
Lần 02: Ngày 18/8/2023, anh Đ tiếp tục vay T số tiền 12.000.000đ nhưng cũng không viết giấy vay tiền, thời hạn vay là 04 tháng, lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Anh Đ đã trả tiền gốc và 7.200.000đ tiền lãi cho T.
Lần 03: Khoảng đầu tháng 9/2023, anh Đ vay thêm của T số tiền 3.000.000đ ( Ba triệu đồng), thời hạn vay là 03 tháng, với lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Anh Đ đã trả đủ tiền gốc và 1.350.000đ tiền lãi cho T (BL 77-114; 143-153)
- Ngày 06/07/2023, chị Lữ Thị Thanh H (sinh năm: 1986, trú tại: Phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) vay của bị cáo T số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), T đưa giấy để chị H viết nội dung vay tiền (không thể hiện lãi suất), thời hạn vay là 06 tháng, với lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Chị H đã trả cho T toàn bộ số tiền gốc và 34.500.000đ bao gồm tiền lãi từ tháng 08 đến tháng 11/2023 và tiền lãi tháng 12/2023 (số tiền là 4.500.000đ). Trong đó, tiền lãi pháp luật cho phép là 3.725.720đ, tiền lãi trên 20%/năm là 30.774.280đ. Chị H đang nợ T số tiền 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng) bao gồm tiền lãi tháng 12/2023 là 3.000.000đ, tiền lãi tháng 01/2024 tính đến ngày 18/01/2024 là 7.500.000đ. Tổng số tiền lãi chị H phải trả cho T là 45.000.000đ. Trong đó, số tiền lãi pháp luật cho phép là 4.931.100đ, tiền lãi trên 20%/năm mà chị H phải trả cho T là 40.068.900đ (BL 77-114; 132-137)
-
Anh Vũ Xuân T1 (sinh năm: 1990, trú tại: Tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) vay T 02 lần với tổng số tiền vay là 55.000.000đ (năm mươi lăm triệu đồng) mức lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Anh T1 đã trả 30.000.000đ tiền gốc và 17.250.000đ tiền lãi cho T. Trong đó, tiền lãi pháp luật cho phép là 1.972.440đ, tiền lãi trên 20%/năm là 15.277.560đ. Anh T1 còn nợ T 25.000.000đ tiền gốc và 2.500.000đ tiền lãi. Tổng số tiền lãi anh T1 phải trả cho T là 19.750.000đ. Trong đó, số tiền lãi pháp luật cho phép là 2.164.205đ, tiền lãi trên 20%/năm mà anh T1 phải trả cho T là 17.585.795đ, cụ thể:
Lần 01: Ngày 25/08/2023, anh T1 vay của T số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), T đưa giấy để anh T1 ghi nội dung vay tiền (không thể hiện lãi suất), thời hạn vay là 03 tháng, lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Anh T1 đã đủ tiền gốc và 13.500.000đ tiền lãi cho T.
Lần 02: Ngày 29/11/2023, anh T1 tiếp tục vay của T số tiền 25.000.000đ nhưng không viết giấy vay tiền, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất thỏa thuận là 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Ngày 29/12/2023, anh Tân đ cho T 3.750.000đ tiền lãi tháng 12/2023. Anh T1 còn nợ lại T 25.000.000đ tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 18/01/2024 là 2.500.000đ (BL 77-114; 140-142).
- Khoảng tháng 9/2023, chị Phạm Thị T2 (tên thường gọi là V; sinh năm: 1994, trú tại: Tổ C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) vay của T số tiền 15.000.000đ, thời hạn vay là 04 tháng, lãi suất là 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Chị T2 đã trả 9.000.000đ (chín triệu đồng) tiền lãi. Trong đó, tiền lãi pháp luật cho phép là 986.220đ, tiền lãi trên 20%/năm là 8.013.780đ. Chị T2 chưa trả 15.000.000đ tiền gốc cho T (BL 77-114; 183-185)
- Ngày 09/10/2023, chị Nguyễn Thị L1 (sinh năm: 1997, trú tại: TDP4, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) vay T số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) thời hạn vay là 120 ngày, lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 182,5%/năm). Khi vay hai bên không viết giấy vay nhưng T giữ Căn cước công dân của chị L1. Chị L1 đã trả cho T 9.000.000đ tiền lãi. Trong đó, tiền lãi pháp luật cho phép là 986.220đ, tiền lãi trên 20%/năm là 8.013.780đ. Chị L1 chưa trả 15.000.000đ tiền gốc cho T (BL 77-114; 154-182).
-
Anh Nguyễn Hồng N1 (sinh năm: 1994, trú tại: TDP3, N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) vay T 02 lần với tổng số tiền vay là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) mức lãi suất 6.667đ/triệu/ngày (tương đương 243,3%/năm). Anh N1 đã trả cho T 10.000.000đ tiền gốc và 3.000.000đ tiền lãi. Trong đó, tiền lãi pháp luật cho phép là 246.555đ, tiền lãi trên 20%/năm là 2.753.445đ. Anh N1 còn nợ T 5.000.000đ (năm triệu đồng) tiền gốc và 700.000đ tiền lãi tính đến ngày 18/01/2024. Tổng số tiền lãi anh N1 phải trả cho T là 3.700.000đ. Trong đó, số tiền lãi pháp luật cho phép là 304.084đ, tiền lãi trên 20%/năm mà anh N1 phải trả cho T là 3.395.916đ, cụ thể:
Lần 01: Ngày 22/9/2023, anh N1 vay T số tiền 10.000.000đ. Khi vay, hai bên không viết giấy vay tiền nhưng T giữ Căn cước công dân của anh N1, thời hạn vay là 01 tháng, lãi suất 2.000.000đ/ 01 tháng. Anh N1 đã đủ tiền gốc cho T và 2.000.000đ tiền lãi.
Lần 02: Ngày 28/11/2023, anh N1 tiếp tục vay T số tiền 5.000.000đ nhưng không viết giấy vay tiền, thời hạn vay là 01 tháng, lãi suất 1.000.000đ/ tháng (tương đương 243,3%/năm). Anh N1 đã trả cho T 1.000.000đ tiền lãi tháng 12/2023. Anh N1 còn nợ T 5.000.000đ tiền gốc và 700.000đ tiền lãi tính đến ngày 18/01/2024 (BL 77-114; 186-188)
-
Anh Lê Kim H3 (trú tại: Tổ D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) vay của T 02 lần với tổng số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), hình thức vay là trả góp theo ngày, lãi suất thỏa thuận 8.000đ/triệu/ngày (tương đương 292%/năm). Anh H3 đã trả cho T 6.500.000đ tiền gốc và 3.960.000đ tiền lãi. Trong đó, tiền lãi pháp luật cho phép là 287.648 đ, tiền lãi trên 20%/năm là 3.672.353đ. Anh H3 còn nợ T 13.500.000đ tiền gốc và 240.000đ tiền lãi tính đến ngày 18/01/2024. Tổng số tiền lãi anh H3 phải trả cho T là 4.200.000đ. Trong đó, số tiền lãi pháp luật cho phép là 287.648, tiền lãi trên 20%/năm mà anh H3 phải trả cho T là 3.912.352, cụ thể:
Lần 01: Ngày 20/12/2023, anh H3 vay T số tiền 15.000.000đ. Khi vay, hai bên không viết giấy vay tiền, thời hạn vay 30 ngày, ngày góp 620.000đ, T lấy trước tiền lãi 01 ngày số tiền 620.000đ, chuyển khoản cho anh H3 số tiền 14.380.000đ, khoản vay này anh H3 đã góp cho T được 22 ngày với số tiền 13.640.000đ gồm 11.000.000đ tiền gốc và 2.640.000đ tiền lãi. Anh H3 còn nợ T 08 ngày với số tiền 4.960.000đ (số tiền nợ này T đã trừ vào lần vay tiếp theo).
Lần 2: Ngày 14/01/2024, anh H3 vay T số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), trong thời hạn 30 ngày, ngày góp 620.000đ, T trừ nợ cũ với số tiền là 4.960.000đ, chuyển khoản cho anh H3 số tiền 10.040.000đ, khoản vay này H3 đã góp cho T được 03 ngày với số tiền 1.860.000đ bao gồm 1.500.000đ tiền gốc và 360.000đ tiền lãi thì T bị bắt. Anh H3 còn nợ T 13.500.000đ tiền gốc và 240.000đ tiền lãi tính đến ngày bị bắt (BL 77-114; 266-267).
Như vậy, từ tháng 03/2023 đến ngày 18/01/2024, Phan Thiên T đã 16 lần cho 09 cá nhân vay tổng số tiền giao dịch là 375.000.000đ, với mức lãi suất từ 182,5%/năm đến 292%/năm. Tổng số tiền lãi 09 người vay phải trả cho T là 182.000.000đ. Trong đó, lãi pháp luật cho phép là 19.669.610đ, tiền lãi trên 20%/năm là 162.330.390đ. T đã thu được 154.260.000đ tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 16.686.294đ, đã thu lợi bất chính được số tiền là 137.573.706đ. Tổng số tiền gốc T sử dụng để cho vay là 146.000.000đ (BL 107-110).
Cáo trạng số 23/CT-VKSĐN-P1 ngày 09-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Phan Thiên T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thiên T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Thiên T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng khoản 2 Điều 201; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phan Thiên T từ 200 đến 230 triệu đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ xử lý đồ vật, tài sản không có liên quan đến vụ án tại Quyết định số 153 ngày 05/02/2024. Cụ thể, trả lại Căn cước công dân cho chị Nguyễn Thị L1 và anh Nguyễn Hồng N1.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu IPHONE 14 Pro Max, gắn sim số 0782.50.39 39, số IMEI:356.703.856.546.576 của Phan Thiên T dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015: Truy thu tổng số tiền 162.686.294đ (Trong đó: số tiền gốc mà T dùng để cho vay 146.000.000đ và số tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự mà T đã thu của người vay là 16.686.294đ)
- Buộc Phan Thiên T phải trả lại cho chị Lữ Thị Thanh H 30.774.280đ.
- Đối với số tiền lãi vượt quá so với luật định và tiền gốc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa trả cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bị cáo có yêu cầu.
- Tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đều vắng mặt tại phiên toà nên không thể hiện ý kiến tại phiên toà.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Phan Thiên T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và năng lực điều khiển hành vi. Trong khoảng thời gian từ tháng 03/2023 đến ngày 18/01/2024 Phan Thiên T đã dùng 146.000.000đ cho 09 cá nhân trên địa bàn thành phố G, tỉnh Đắk Nông vay 16 lần với lãi suất từ 182.5%/năm đến 292%/năm, tổng số tiền giao dịch lên đến 375.000.000đ, vượt quá 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Tổng số tiền lãi 09 người vay phải trả cho T là 182.000.000đ. Trong đó, lãi pháp luật cho phép là 19.669.610đ, tiền lãi trên 20%/năm là 162.330.390đ (số tiền thu lợi bất chính). T đã thu được 154.260.000đ tiền lãi (trong đó số tiền thu lãi cho phép là 16.686.294đ, thu lợi bất chính số tiền là 137.573.706đ).
Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Thiên T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...”
[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý tiền tệ của Nhà nước, xâm phạm đến lợi ích cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết việc cho vay lãi nặng trong quan hệ dân sự là trái quy định của pháp luật và bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì lợi ích cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo trên cơ sở xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã nộp 30 triệu đồng tiền khắc phục hậu quả. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ xử lý đồ vật, tài sản không có liên quan đến vụ án tại Quyết định số 153 ngày 05/02/2024 và biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 09/02/2024. Cụ thể đã trả lại Căn cước công dân cho chị Nguyễn Thị L1 và anh Nguyễn Hồng N1.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu IPHONE 14 Pro Max, gắn sim số 0782.50.39 39, số IMEI:356.703.856.546.576 của Phan Thiên T dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước (Đối với sim gắn trong điện thoại nếu còn giá trị sử dụng thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước, nếu không còn giá trị sử dụng thì tiêu huỷ).
[6]. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự:
Truy thu, buộc bị cáo Phan Thiên T phải nộp lại tổng số tiền 162.686.294đ (Trong đó: số tiền gốc mà T dùng để cho vay 146.000.000đ và số tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự mà T đã thu của người vay là 16.686.294đ). Để sung ngân sách Nhà nước được khấu trừ số tiền 30.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông (theo biên lai thu tiền số 0000042 ngày 16-4-2024).
- Buộc Phan Thiên T phải trả lại số tiền thu lợi bất chính cho chị Lữ Thị Thanh H 30.774.280đ. Do chị H đã trả cho T toàn bộ tiền gốc, lãi và có yêu cầu giải quyết.
[7]. Đối với khoản tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Phan Thiên T đã lấy của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Nguyễn Thị H2, Lữ Thị Mỹ H1, Trần Thiên Đ, Vũ Xuân T1, Phạm Thị T2, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Hồng N1 và Lê Kim H3, tại giai đoạn xét xử họ đều vắng mặt, tại giai đoạn điều tra, truy tố, những người này không có yêu cầu và đối với số tiền gốc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn nợ bị cáo thì bị cáo cũng không có yêu cầu. Do đó, các khoản tiền này tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bị cáo có yêu cầu.
[8]. Về án phí: Bị cáo Phan Thiên T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Phan Thiên T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng khoản 2 Điều 201; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phan Thiên T 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ xử lý đồ vật, tài sản không có liên quan đến vụ án tại Quyết định số 153 ngày 05/02/2024 và biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 09/02/2024. Cụ thể đã trả lại Căn cước công dân cho chị Nguyễn Thị L1 và anh Nguyễn Hồng N1.
Tịch thu sung chiếc điện thoại di động hiệu IPHONE 14 Pro Max, gắn sim số 0782.50.39 39, số IMEI: 356.703.856.546.576 của Phan Thiên T dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước (Đối với sim gắn trong điện thoại nếu còn giá trị sử dụng thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước, nếu không còn giá trị sử dụng thì tiêu huỷ).
-
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Truy thu, buộc bị cáo Phan Thiên T phải nộp số tiền 162.686.294đ (Trong đó: số tiền gốc mà T dùng để cho vay 146.000.000đ và số tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự mà T đã thu của người vay là 16.686.294đ). Được khấu trừ số tiền 30.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông (theo biên lai thu tiền số 0000042 ngày 16-4-2024). Bị cáo phải nộp tiếp 132.686.294 đồng còn lại.
- Buộc bị cáo Phan Thiên T phải trả lại cho chị Lữ Thị Thanh H 30.774.280đ.
“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự”.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Phan Thiên T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.538.000 án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Chiến |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thiên T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
