TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Số: 32/2024/HNGĐ - ST Ngày 08 - 7 -2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Biên
Bà Nguyễn Thị Vượng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 03 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28/6/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994 (Có đơn xin vắng mặt)
HKTT: Thôn Tân Mỹ, xã Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Chỗ ở: Tổ dân phố Phú Mỹ, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H1 đã đăng ký kết hôn ngày 25/12/2019 tại UBND xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn, hai bên có tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có tổ chức cưới. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến ngày 03/3/2021, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H1 chơi bời, không quan tâm vợ con. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, chửi nhau, anh H1 còn đánh chị nhiều lần. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ đầu tháng 03/2024. Từ đó đến nay, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Mạnh H2, sinh ngày 08/02/2021, hiện cháu H2 đang ở cùng chị. ly hôn, chị xin được tiếp tục nuôi con chung. Hiện chị đang làm lao động tự do, mức thu nhập bình quân mỗi tháng 15.000.000 đồng. Chị đủ điều kiện để chăm sóc giáo dục con chung. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai chị yêu cầu anh H1 đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, nhưng đến nay chị không yêu cầu anh H1 đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con nữa.
Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn – anh Nguyễn Văn H1 đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án và tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng anh H1 không đến Toà án làm việc và gửi văn bản trình bày ý kiến phản hồi về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung của chị H đến Toà án.
Tại biên bản xác minh của Toà án với ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1952, địa chỉ: thôn T, xã Đ, thành phố B là bố đẻ của anh Nguyễn Văn H1 cung cấp như sau: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1987 và chị Nguyễn Thị H kết hôn ngày 25/12/2019, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thành phố B. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh H1, chị H có mâu thuẫn, cãi vã nhau, hiện chị H đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Anh H1, chị H có 01 con chung là Nguyễn Mạnh H2, sinh ngày 08/02/2021, hiện cháu H2 đang ở cùng chị H. Nay chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại biên bản xác minh của Toà án với ông Nguyễn Văn D là trưởng thôn T, xã Đ, ông D cung cấp: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1987 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994 cùng hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Anh H1 và chị H kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ. Trong quá trình chung sống của anh, chị, địa phương không biết mâu thuẫn xảy ra giữa anh H1 và chị H, chỉ biết hiện chị H đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Anh, chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 2021, hiện cháu H2 đang ở cùng chị H. Hiện anh H1, chị H đang làm tự do, mức thu nhập cụ thể địa phương không biết. Nay chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Nguyễn Văn H1, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn – Chị Nguyễn Thị H có đơn xin vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn H1 triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39; điều 147; điều 227; 228; điều 238; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1. Về con chung: đề nghị giao cho chị Nguyễn Thị H nuôi con chung Nguyễn Mạnh H2, sinh ngày 08/02/2021. Về cấp dưỡng nuôi: không đặt ra xem xét do đương sự không yêu cầu. Tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản không đặt ra xem xét. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức và nội dung đơn khởi kiện.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, bị đơn có địa chỉ cư trú tại thôn T, xã Đ, thành phố B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điều 227, 228, điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[4]. Về nội dung:
[4.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ lời khai của nguyên đơn, giấy chứng nhận kết hôn do nguyên đơn cung cấp cho thấy chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1 đã kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thành phố B vào ngày 25/12/2019, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1 là hôn nhân là hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Lời khai của chị Nguyễn Thị H xác nhận vợ chồng có những mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã từ ngày 03/3/2024 và ly thân từ đó đến nay. Tại biên bản xác minh ở địa phương và bố đẻ của anh Nguyễn Văn H1 cũng thể hiện chị H và anh H1 đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã giải thích, phân tích cho chị H, tuy nhiên chị H vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn anh H1. Anh H1 được Toà án triệu tập làm việc, hoà giải nhưng không đến và cũng không thể hiện quan điểm đối với yêu cầu ly hôn của chị H, điều đó cho thấy anh H1 không có thiện chí để hòa giải. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 đã trầm trọng, hai người đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc, thực hiện đúng nghĩa vụ vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H là phù hợp quy định tại điều 51, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[4.2]. Về con chung:
Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1 có 01 con chung là Nguyễn Mạnh H2 sinh ngày 08/02/2021. Hiện nay con chung đang ở cùng chị Nguyễn Thị H, phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ. Do cháu Nguyễn Mạnh H2 còn nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ, để đảm bảo sự phát triển ổn định cho con chung và được mẹ chăm sóc, xét chị H có nơi cư trú ổn định, có nghề nghiệp, thu nhập, đủ điều kiện chăm sóc, nuôi con nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu H2 cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H xác định đủ điều kiện chăm sóc, nuôi con và không yêu cầu anh H1 đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4.3]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[6]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39; điều 147; điều 227; điều 228; điều 238; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1 ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Mạnh H2, sinh ngày 08/02/2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn H1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H1 thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0001655 ngày 18/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Xác nhận chị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tòa án tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H và anh H1 mâu thuẫn yêu cầu giải quyết ly hôn, con chung. Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện
