|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08-7-2024 V/v tranh chấp “Ly hôn và con chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vui.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Phúc;
- Ông Nguyễn Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tuyết Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 66/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HN ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Hồng N, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Phước R, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Tất cả vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Trần Hồng N trình bày: Chị và anh Nguyễn Phước R tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Trần Thị Diễm M, sinh ngày 01-11-2011 và Nguyễn Tấn L, sinh ngày 19-3-2016, hiện chị đang nuôi dưỡng.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn, do cả hai bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cải vã nhau, mặc dù vợ chồng cũng đã cố gắng nhường nhịn và hai bên gia đình cũng khuyên nhủ nhưng vẫn không hòa hợp được, từ đó cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị về nhà mẹ ruột ở và sống ly thân từ tháng 12-2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân anh chị không gặp nhau để bàn bạc việc hàn gắn gia đình. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh R.
Về con chung: Chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con, không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Do bận công việc nên chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn anh Nguyễn Phước R trình bày: Tại biên bản lấy lời khai ngày 15-5-2024 anh thống nhất thời gian chung sống, có đăng ký kết, con chung, tài sản chung và nợ chung. Riêng nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm nên thường xuyên cải vã nhau, từ đó cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị N bỏ về nhà mẹ ruột ở và vợ chồng sống ly thân từ tháng 12-2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân cả hai không gặp nhau để bàn bạc việc hàn gắn gia đình, không ai quâm tâm chăm sóc đến ai. Nay chị N yêu cầu ly hôn, anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh đồng ý cho chị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Do bận công việc nên anh R có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Hồng N đối với anh Nguyễn Phước R; Con chung, giao cho chị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Trần Thị Diễm M, sinh ngày 01-11-2011 và Nguyễn Tấn L, sinh ngày 19-3-2016, anh R không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu; Tài sản, chị N và anh R không yêu cầu nên không xem xét giải quyết; Nợ chung, chị N và anh R khai không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Trần Hồng N và anh Nguyễn Phước R có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Trần Hồng N và anh Nguyễn Phước R kết hôn trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
[3] Xét tình trạng hôn nhân của anh chị thì thấy rằng: Anh chị chung sống vào năm 2011, trong thời gian sống chung anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mặc dù anh chị đã có gắng nhường nhịn nhưng vẫn không hòa hợp được và trong thời gian sống ly thân chị N và anh R không gặp nhau bàn bạc việc đoàn tụ, không ai quan tâm chăm sóc đến ai, hơn nữa tại biên bản lấy lời khai ngày 15-5-2024 anh R đồng ý ly hôn. Do đó, có đủ căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa chị N và anh R đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Chị N yêu cầu được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Trần Thị Diễm M, sinh ngày 01-11-2011 và Nguyễn Tấn L, sinh ngày 19-3-2016, anh R đồng ý. Xét thấy, từ ngày anh chị sống ly thân, cháu M và cháu L được chị N nuôi dưỡng chăm sóc tốt, hơn nữa các cháu nguyện vọng sống với chị N nên Hội đồng xét xử cần giao con cho chị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Riêng việc cấp dưỡng nuôi con, chị N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị N và anh R không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: Chị N và anh R khai không có nên không xem xét giải quyết.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Hồng N với anh Nguyễn Phước R. Chị N được ly hôn với anh R.
- Về con chung: Giao cho chị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Thị Diễm M, sinh ngày 01-11-2011 và Nguyễn Tấn L, sinh ngày 19-3-2016. Anh R không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.
Anh R có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị N và anh R không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị N và anh R khai không có nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012198 ngày 07-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu. Ghi nhận chị N đã nộp đủ tiền án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vui |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn và con chung
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và con chung
