|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08–5–2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Lan Chi
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Sáu
- Bà Trần Thị Phương Anh
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhựt, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Châu Ngọc Hạnh- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 39/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1985 (có đơn vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- - Bị đơn: Anh Trịnh Minh T, sinh năm 1977 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc H trình bày tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 02 năm 2024 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án: Chị H và anh T xây dựng hôn nhân năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu ngày 10/8/2006. Sau khi cưới, hai vợ chồng sống chung với mẹ chồng tại ấp C, xã L, huyện V được khoảng 03 năm và sau đó vợ chồng đi làm thuê, ở trọ. Đến khoảng năm 2014 cha mẹ chị H bệnh nên vợ chồng chị H, anh T về sống chung với cha mẹ chị H tại ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Về con chung có 01 người con chung là cháu Trịnh Minh T1, sinh ngày 07/02/2007. Hiện cháu T1 đang sống cùng anh T.
Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, thường xuyên cự cãi, anh T không lo làm ăn, đi uống rượu về gày chửi chị H, cuộc sống chung không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn bắt nguồn từ kinh tế. Vợ chồng đã ly thân khoảng hơn 02 tháng nay và đây là cũng là khoản thời gian anh T về nhà mẹ ruột anh T ở cho đến nay.
Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh T, con chung chị H yêu cầu xem xét nguyện vọng cháu T1, nếu cháu T1 theo chị H thì chị H nuôi và không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Nếu cháu T1 theo anh T thì chị H cũng đồng ý và không phải cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Trịnh Minh T không có lời khai trong hồ sơ. Lý do, Tòa án nhiều lần triệu tập anh T đến Tòa án làm việc nhưng anh T không đến; Tòa án đến nhà lấy lời khai nhưng anh T không có nhà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu phát biểu việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh T. Về con chung: Đề nghị hội đồng xét xử giao cháu Trịnh Minh T1, sinh ngày 07/02/2007 cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dạy, giáo dục. Hiện cháu T1 đang sống cùng anh T. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng. Chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003916 ngày 28/02/2024 được chuyển thu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 23 tháng 02 năm 2024 chị Trần Thị Ngọc H nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Trịnh Minh T. Anh T có địa chỉ đăng ký thường trú tại ấp C, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, riêng anh T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh T theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về hôn nhân: Chị H và anh T xây dựng hôn nhân năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu ngày 10/8/2006 nên hôn nhân giữa chị H và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[3]. Chị H xác định trong thời gian chung sống, giữa chị H và anh T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng ý kiến, thường xuyên gày cải, anh T không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu về chửi chị. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, chị H và anh T đã ly thân hơn 02 tháng nay. Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh T. Phía anh T được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T không đến Tòa án làm việc nên anh T không có lời khai trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai chị H phù hợp với lời khai bà Trần Thị Ngọc T2 là mẹ ruột anh T. Bà T2 xác định, quá trình chung sống, chị H và anh T có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn thì bà thu không rõ. Anh T và chị H đã ly thân, vì hiện anh T đã về sinh sống cùng gia đình bà T2 tại ấp C, xã L, huyện V. Khi Tòa án gửi văn bản cho anh T, bà T2 có báo cho anh T biết nhưng anh T nói bà H muốn làm gì thì làm.
Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng phải biết yêu thương, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Hôn nhân giữa chị H và anh T không còn hạnh phúc, quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn này đã trầm trọng, chị H và T đã ly thân hơn 04 tháng nay. Chị H không còn tình cảm với anh T, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị H yêu cầu được ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh T.
[4]. Về con chung: Chị H và anh T chung sống với nhau có 01 người con chung là cháu Trịnh Minh T1, sinh ngày 07/02/2007.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho ai nuôi là phải xem xét toàn diện, đầy đủ đảm bảo điều kiện cho con chưa thành niên. Để đảm bảo sự ổn định sinh hoạt, ăn ở, học hành, chăm sóc, nuôi dạy cháu T1, do cháu T1 đang sống cùng anh T nên cần tiếp tục giao cháu T1 cho anh T tiếp tục nuôi dạy. Điều này phù hợp với nguyện vọng cháu T1.
[5]. Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình làm việc tại Tòa án, anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định chị và anh T chung sống với nhau không có tạo lập tài sản chung và không nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[7]. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng. Chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003916 ngày 28/02/2024 được chuyển thu án phí.
[8]. Từ những phân tích trên cần chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Ngọc H đối với anh Trịnh Minh T. Xử cho chị Trần Thị Ngọc H được ly hôn đối với anh Trịnh Minh T.
- Về con chung: Giao cháu Trịnh Minh T1, sinh ngày 07/02/2007 cho anh Trịnh Minh T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu T1 đang sống cùng với anh T.
Chị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trịnh Minh T không yêu cầu chị Trần Thị Ngọc H cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, về nợ chung: Chị H xác định về tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng. Chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003916 ngày 28/02/2024 được chuyển thu án phí.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thụy Lan Chi |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI TỈNH BẠC LIÊU về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Hoài yêu cầu ly hôn với anh Tòng
