TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:32/2024/HSST
Ngày 08 tháng 5 năm 2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ - TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thanh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khả Hòa, Ông Lê Đình Hưng
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phùng Lê Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Bùi Ngọc Trung - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân huyện Đức Cơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/HSST ngày 19 tháng 03 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số:24/2024/ QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Phan Văn H, Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 05/5/1991 tại: huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;
Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không ; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Phan Văn T và bà Nguyễn Thị P; Hiện sinh sống ở xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;
Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Tại Bản án số 22 ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt Phan Văn H 04 năm tù về tội “cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tiền sự: Không. Nhân thân: Không
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ từ ngày 05/01/2024 đến nay. (có mặt)
- Bị hại:
+ Ông Trần Xuân T1, sinh năm 1980 và bà Lê Thị X, sinh năm 1985; Cùng địa chỉ: Làng B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
+ Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn C, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
- Người làm chứng:
+ Ông Trần Thanh H1, sinh năm 1966; địa chỉ: Làng B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
+ Anh Lê Đức T3, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn M, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
+ Anh Trần Văn D, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn M, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
+ Anh Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn M, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
+ Anh Hoàng Văn D1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn M, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt)
+ Anh Nguyễn Trọng H2, sinh năm 1987; địa chỉ: Làng B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 31/5/2023, bị cáo Phan Văn H, anh Lê Đức T3 cùng với 03 người nữa (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đi trên xe ô tô (chưa xác định được chủng loại và biển kiểm soát) đến rẫy đang tranh chấp giữa H với vợ chồng anh Trần Xuân T1 và chị Lê Thị X tại khu vực dốc bò thuộc thôn C, xã I, huyện Đ, tỉnh gia Lai để xem. Khi đến nơi thì xe ô tô đậu bên ngoài còn H và T3 đi bộ vào. Khi vào đến nơi thì có anh T1 cùng ông Trần Thanh H1 và anh Nguyễn Thanh T2 đang phun thuốc diệt cỏ cho cây mỳ (sắn). Lúc này, anh T1 đang ngồi trên xe mô tô, tay trái cầm 01 (một) con dao. H và T3 đi đến, T3 đi vòng ra phía sau lưng anh T1 giật con dao vứt ra gần đó. H xông đến dùng tay đấm vào mặt của anh T1 khiến anh T1 ngã xuống đất. Tiếp đến H nhặt con dao chặt phá tài sản của anh T1 và anh Nguyễn Thanh T2. Tài sản của anh T1 gồm: 03 (ba) cuộn ống dùng để phun thuốc, màu vàng, không rõ nhãn hiệu, có tổng chiều dài khoảng 150m; 01 (một) bộ vòi phun sương (súng phun); 01 (một) can nhựa, màu vàng, loại 5 lít bên trong có 03 lít xăng, loại xăng 92; 01 (một) can nhựa dùng để đựng nước rửa, màu trắng, loại 30 lít, 01 (một) bình nhựa dùng để dựng nước uống, màu xanh, loại 20 lít, nhãn hiệu GIA NHI. Tài sản của anh T2 gồm: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A14; 01 (một) cuộn ống nhựa dẻo, màu xanh, đường kính 27mm, có tổng chiều dài khoảng 30m. Sau khi chặt phá tài sản của xong thì H cầm theo con dao cùng với Lê Đức T3 ra xe đi về. Ngay sau khi sự việc xảy ra bị hại đã trình báo Công an xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để giải quyết. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Công an tỉnh G thụ lý giải quyết. Đến ngày 31/7/2023 vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định tại thời điểm bị cáo Phan Văn H đánh anh T1 và chặt phá tài sản thì ông Trần Thanh H1 cũng bị đánh gây thương tích ở vùng thái dương trái sát vành tay trái. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tách hành vi này ra để xử lý bằng một vụ việc khác.
Ngày 14/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra quyết định trưng cầu Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng – V giám định thương tích của anh Trần Xuân T1
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1705/KL-KTHS ngày 24/8/2023 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng – V, kết luận:
- Các kết quả chính:
- Căn cứ kết quả nghiên cứu hồ sơ, khám giám định, kết quả cận lâm sàn và hội chuẩn chuyên khoa, xác định anh Trần Xuân T1 bị chấn thương phần mềm vùng đầu, mặt đã được điều trị. Hiện tại không để lại dấu vết thương tích.
- Tổn thương xẹp thân đốt sống L2 của anh Trần Xuân T1 là tổn thương cũ, có trước thời điểm xảy ra vụ việc ngày 31/5/2023.
- Kết luận
2.1. Tỷ lệ tổn thương cơ thể
Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Xuân T1 tại thời điểm giám định là: 0% (không phần trăm);
2.2. Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương phù nề mô mềm vùng đầu, mặt do vật tày gây nên.
Ngày 04/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra quyết định trưng Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh G giám định thương tích của ông Trần Thanh H1.
Tại kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 409 ngày 11/8/2023 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh G, kết luận:
- Các kết quả chính:
01 sẹo vết thương phần mềm vùng thái dương trái sát vành tai trái: 1%
- Kết luận:
Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BUT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Thanh H1 tại thời điểm giám định là: 1% (một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư;
+ Cơ chế hình thành thương tích: Do sự tác động trực tiếp.
+ Xác định vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật tày có cạnh.
Tại kết luận định giá tài sản số 35 ngày 24/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận:
- Giá trị thiệt hại của 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A14, màu xanh (theo lời khai của anh Nguyễn Anh T5 là chủ tài sản: Mua mới vào tháng 7/2021 với giá 4.500.000 đồng), hiện đã hư hỏng không kiểm tra được chi tiết bên trong. Thời điểm định giá tháng 5/2023 là 2.700.000 đồng
- Giá trị thiệt hại của 01 cuộn ống nhựa dẻo, màu xanh, đường kính 27mm (theo lời khai của anh Nguyễn Thanh T2 là chủ tài sản: Có chiều dài khoảng 30m, đã qua sử dụng, mua mới vào khoảng tháng 10/2022, giá thời điểm mua khoảng 300.000 đồng, hiện đã bị chặt đứt rời thành nhiều đoạn dài ngắn khác nhau). Thời điểm định giá tháng 5/2023 là 270.000 đồng.
- Giá trị thiệt hại của 03 (ba) cuộn ống dùng để phun thuốc, không rõ nhãn hiệu (theo lời khai của anh Trần Xuân T1 chủ tài sản: Mỗi cuộn ống có chiều dài khoảng 50m, chất liệu bằng nhựa và dây dù, màu vàng, có 03 lớp, đường kính 01cm, mua mới khoảng tháng 12/2020, giá trị thời điểm mua là 800.000 đồng/ 01 cuộn – tổng 03 cuộn là 2.400.000 đồng, đã qua sử dụng). Thời điểm định giá tháng 5/2023 là 1.800.000 đồng.
- Giá trị thiệt hại của 01 bộ vòi phun sương (súng phun) bao gồm: các bộ phận: tay cầm, cò bấm, ống dẫn bằng kim loại được gắn kết với nhau (theo lời khai của anh Trần Xuân T1 chủ tài sản: mua tháng 12/2022, giá thời điểm mua là 340.000 đồng, đã qua sử dụng). Thời điểm định giá vào tháng 5/2023 là 91.000 đồng
- Giá trị thiệt hại của 01 bình nhựa đựng nước, màu xanh, loại 20 lít, nhãn hiệu Gia N (theo lời khai của anh Trần Xuân T1 chủ tài sản): Bên trong đựng 20 lít nước uống, giá thời điểm tháng 5/2023 là 60.000 đồng, đã mở và sử dụng một phần nước. Thời điểm định giá tháng 5/2023 là 50.000 đồng.
- Giá trị thiệt hại của 01 can nhựa đựng nước rửa, màu trắng, loại 30 lít (theo lời khai của anh Trần Xuân T1 chủ tài sản: mới mua tháng 5/2023 với giá 50.000 đồng). Thời điểm định giá tháng 5/2023 là 50.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản yêu cầu định giá là 5.216.000 đồng (năm triệu hai trăm mười sáu nghìn đồng).
Ngoài ra, bị cáo Phan Văn Hưng quá trình bị khởi tố, điều tra và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với tội “Hủy hoại tài sản” thì tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Vào ngày 01/01/2024, anh Nguyễn Xuân T6 cùng vợ là chị Lê Thị X thuê nhân công vào thu hoạch mỳ do vợ chồng anh chị trồng trên đất tranh chấp nêu trên thì H đã đến ngăn cản và yêu cầu những người làm thuê đổ mỳ xuống tại khu vực đất rẫy thì những người này không thu hoạch nữa. Đến ngày 03/01/2024, do có ý định chiếm đoạt số mỳ trên nên H thuê anh Trần Văn D, anh Nguyễn Ngọc T4 và anh Hoàng Văn D1 đi thu hoạch mỳ cho H. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, H dẫn các anh T4, D và D1 đến rẫy mỳ trên. Trên đường đi H vào cơ sở thu mua nông sản của anh Huỳnh Văn N1 tại khu vực Đội 20 - Công ty G thuộc địa phận thôn C, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Tại đây, H không gặp anh N1 nên gọi điện thoại nói là sẽ thu hoạch mỳ về bán cho anh N1 thì anh N1 đồng ý. Đồng thời tại nhà anh N1, H thuê anh Nguyễn Trọng H2, (là lái xe của anh N1) đi chở mỳ cho H. Khi thuê những người này thì H nói là mỳ của H nên những người này không biết H đi trộm cắp. Khi đến khu vực rẫy H dẫn các anh T4, D và D1 đến những khu vực đã thu hoạch mỳ khoảng 2-3 ngày trước và gom mỳ thành đống, một lúc sau thì anh H2 lái xe cày đến rồi cùng nhau bốc lên xe. Sau khi bốc được 3.365 kilôgam thì H bảo anh H2 chở về nhà của anh N1 bán trước, còn H cùng các anh T4, D và D1 ở lại thu hoạch tiếp. Khi thu hoạch được thêm 1.087 kilôgam thì bị lực lượng Công an phát hiện. Sau đó, H bị giữa khẩn cấp về hành vi trộm cắp tài sản. Tại cơ quan điều tra Phan Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Tổng số mỳ mà H đã trộm cắp là 4.452 kilôgam.
Tại kết luận định giá tài sản số 03 ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận:
- 4.452 kilôgam củ mỳ (sắn) tươi. Giá trị định giá là 10.907.400 đồng.
- Giá 01 kilôgam củ mỳ (sắn) tươi là 2.450 đồng.
Tổng giá trị tài sản yêu cầu định giá là: 10.907.400 đồng. (Bằng chữ: Mười triệu chín trăm lẻ bảy ngàn bốn trăm đồng).
Ngày 19/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai đã khởi tố vụ án và ngày 07/11/2023 đã khởi tố bị can đối với bị cáo Phan Văn H về tội “ Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự;
Ngày 11/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai đã khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với bị cáo Phan Văn H về tội “ Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tại Bản cáo trạng số: 20/CT-VKS ngày 18/03/ 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ đã truy tố bị cáo Phan Văn H tội" Hủy hoại tài sản" theo khoản 1 Điều 178 và tội" Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
*Kiểm sát viên luận tội, nêu quan điểm xử lý vụ án:
Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo Phan Văn H tội “ Hủy hoại tài sản”, và tội “ Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
- Về tình tiết tăng năng: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 của Bộ luật Hình sự 2015.
- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính:
Căn cứ khoản 1 Điều 178 ; Điều 38; 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “ Hủy hoại tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173 ; Điều 38; 50; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Tổng hợp hình phạt cả 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 24 đến 30 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự:
* Buộc bị cáo Phan Văn H bồi thường cho ông Trần Xuân T1 và bà Lê Thị X gồm:
- Bồi thường thiệt hại về tài sản: 03 cuộn ống dùng phun thuốc, 01 bộ vòi phun, 01 can nhựa, 03 lít xăng, 01 bình nước, 01 can nước. Tổng giá trị là: 2.246.000 đồng.
- Bồi thường thiệt hại về sức khỏe gồm: Tiền ngày công lao động của ông T1 và người chăm sóc trong thời gian ông T1 nằm viện 14 ngày, tiền chi phí điều trị, tiền tổn thất về tinh thần theo quy định của pháp luật.
* Buộc bị cáo Phan Văn H bồi thường cho ông Nguyễn Thanh T2 01 điện thoại, 01 cuộn ống dùng phun. Tổng giá trị là: 2.970.000đ
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị chấp nhận việc cơ quan điều tra trao trả gồm:
Trả 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A14, hiện đã hư hỏng không kiểm tra được chỉ tiết bên trong; 01 (một) cuộn ống nhựa dẻo, màu xanh, đường kính 27mm, hiện đã bị chặt đứt rời thành nhiều đoạn dài ngắn khác nhau, có tổng chiều dài khoảng 30m cho anh Nguyễn Thanh T2.
Trả 03 (ba) cuộn ống dùng để phun thuốc, màu vàng, không rõ nhẫn hiệu bị chặt phá, có tổng chiều dài khoảng 150m. Đã qua sử dụng; 01 (một) bộ vòi phun sương (súng phun) bao gồm: Các bộ phận: tay cầm, cò bấm, ống dẫn bằng kim loại, đầu phun sương bằng kim loại được gắn kết với nhau (đã qua sử dụng); 01 (một) can nhựa, màu vàng, loại 5 lít dùng để chứa xăng, sau khi can bị hỏng thì xăng đã chảy ra ngoài hết; 01 (một) bình nhựa dùng để dựng nước uống, màu xanh, loại 20 lít, nhãn hiệu GIA NHI; 01 (một) can nhựa dùng để đựng nước rửa, màu trắng, loại 30 lít cho anh Trần Xuân T1.
+ Trả 4.452 kg (bốn ngàn bốn trăm năm mươi hai kilogam) củ mì (sắn) tươi xác định đây là tài sản của gia đình anh Trần Xuân T1 và chị Lê Thị X.
+ Đối với 01 (một) con dao có đặc điểm chiều dài khoảng 50 - 60cm, loại dao rựa mà H dùng để chặt phá các tài sản của anh Trần Xuân T1 và anh Nguyễn Thanh T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả. Nên không đề cập xử lý.
+ Đối với 10.000.000đ bị cáo đã giao nộp, đề nghị tuyên bảo thủ để bảo đảm thi hành án.
- Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Đối với hành vi và các đối tượng liên quan trong vụ án:
+ Đối với hành vi Phan Văn H dùng tay chân đánh Trần Xuân T1, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0%. Do đó, không đủ cơ sở xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phan Văn H về tội Cố ý gây thương tích. Vì vây, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã đề nghị Công an huyện Đ xử phạt hành chính đối với H là có căn cứ.
+ Đối với thương tích của ông Trần Thanh H1 tại thời điểm giám định là: 1% (một phần trăm). Quá trình điều tra xác định thương tích của ông H1 không phải do Phan Văn H gây ra. Ông H1 khai nhận do Lê Đức T3 gây ra. Nhưng Lê Đức T3 không thừa nhận hành vi gây thương tích cho ông H1. Quá trình điều tra chưa xác định được thương tích của ông H1 do ai gây ra. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tách hành vi này ra thụ lý tin báo và tiếp tục xác minh xử lý theo quy định là có căn cứ.
+ Đối với người đàn ông tên H3 và những người đi cùng H3 trên xe ô tô màu trắng, loại xe 4 chỗ ngồi. Quá trình điều tra không xác minh được những người này và nguồn gốc xe ô tô và cũng không chứng minh được những người này có liên quan đến hành vi phạm tội của Phan Văn H nên không xem xét xử lý là có căn cứ.
+ Đối với các anh Trần Văn D, Nguyễn Ngọc T4, Hoàng Văn D1 và Nguyễn Trọng H2 được Phan Văn H thuê đi thu hoạch mỳ và thuê đi chở mỳ. Khi đi thì những người này không biết H đi trộm cắp tài sản. Vì vậy, không có cơ sở để xử lý đối với những người này với vai trò đồng phạm.
+ Đối với anh Huỳnh Văn N1: Khi nhận lời thu mua mỳ, H bảo đó là tài sản của H. Vì vậy, anh N1 không biết đó là tài sản do H trộm cắp mà có nên không xử lý anh N1 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.
Do đó không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
* Bị cáo không có ý kiến gì đối với kết luận định giá tài sản, kết luận giám định, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào ngày 31/5/2023, bị cáo Phan Văn H sau khi đánh ông Trần Xuân T1, bị cáo còn sử dụng loại dao rựa chặt phá hủy hoại tài sản của ông Trần xuân T7 và ông Nguyễn Thanh T2, cụ thể:
Bị cáo chặt phá hủy hoại tài sản của ông T7 gồm: 03 (ba) cuộn ống dùng để phun thuốc dài khoảng 150m, 01 (một) bộ vòi phun sương (súng phun), 01 (một) can nhựa loại 5 lít và 03 lít xăng, 01 (một) bình nhựa đựng nước uống loại 20 lít, 01 (một) can nhựa đựng nước rửa loại 30 lít có giá trị là 2.246.000 đồng.
Bị cáo chặt phá hủy hoại tài sản của ông T2: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A14; 01 (một) cuộn ống nhựa dẻo, dài khoảng 30m, đường kính 27mm của anh Nguyễn Thanh T2 có giá trị là 2.970.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị cáo Phan Văn H đã hủy hoại của ông T7 và ông T2 là 5.216.000 đồng (năm triệu hai trăm mười sáu ngàn đồng).
Ngoài ra, trong quá trình khởi tố, điều tra hành vi hủy hoại tài sản nêu trên, bị cáo Phan Văn H được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, thì sáng ngày 04/01/2024 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp 4.452 kilôgam củ mỳ (sắn)tươi của ông Trần Xuân T1 và bà Lê Thị X tại rẫy thuộc khu vực D, Đội 21, Công ty G, thôn C, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai có giá trị 10.907.400 đồng. (mười triệu chín trăm lẻ bảy ngàn bốn trăm đồng).
Tại phiên toà bị cáo Phan Văn H khai nhận toàn bộ hành vi “Hủy hoại tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ truy tố bị cáo Phan Văn H về tội " Hủy hoại tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 178 và tội " Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Hành vi “Hủy hoại tài sản” và hành vi “Trộm cắp tài sản” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Nên cần thiết phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc và xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết, mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện nộp 10.000.000đ cho cơ quan điều tra để khắc phục thiệt hại do hành vi của bị cáo gây ra, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có điều kiện kinh tế, nên không cần thiết xử phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
* Buộc bị cáo Phan Văn H bồi thường các khoản thiệt hại cho ông Trần Xuân T1 và bà Lê Thị X gồm:
- Bồi thường thiệt hại về tài sản gồm: 03 cuộn ống dùng phun thuốc, 01 bộ vòi phun, 01 can nhựa thể tích 05 lít, 03 lít xăng, 01 bình nhựa thể tích 20 lít, 01 can nhựa thể tích 30 lít. Tổng giá trị: 2.246.000 đồng.
- Bồi thường thiệt hại về sức khỏe:
- + Tiền ngày công lao động của ông T1 :
- 14 ngày x 217.000đ = 3.038.000₫
- + Tiền ngày công lao động của người chăm sóc:
- 14 ngày x 180.000đ = 2.520.000₫
- + Tiền chi phí điều trị theo chứng từ hợp pháp: 6.616.000đ.
- + Tiền tổn thất về tinh thần: 1.800.000đ x 01 tháng lương cơ sở = 1.800.000đ.
- + Tiền thu nhập thực tế bị mất sau khi ra viện chưa lao động ngay được:
- 10 ngày x 217.000đ = 2.170.000₫.
- + Tiền thuê xe đi và về: 1.200.000₫ x 2 = 2.400.000₫
- Tổng cộng: 18.544.000₫
Tổng thiệt hại bị cáo Phan Văn H phải bồi thường cho ông Trần Xuân T1 và Lê Thị X là: 2.246.000đ + 18.544.000đ = 20.790.000₫
* Buộc bị cáo bồi thường cho ông Nguyễn Thanh T2 01 điện thoại, 01 cuộn ống dùng phun thuốc. Tổng giá trị: 2.970.000₫
[6] Về xử lý vật chứng: Xét việc cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho ông Trần Xuân T1 và bà Lê Thị X 03 (ba) cuộn ống dùng để phun thuốc, màu vàng, không rõ nhẫn hiệu bị chặt phá, có tổng chiều dài khoảng 150m. Đã qua sử dụng; 01 (một) bộ vòi phun sương (súng phun) bao gồm: Các bộ phận: tay cầm, cò bấm, ống dẫn bằng kim loại, đầu phun sương bằng kim loại được gắn kết với nhau (đã qua sử dụng); 01 (một) can nhựa, màu vàng, loại 5 lít dùng để chứa xăng, sau khi can bị hỏng thì xăng đã chảy ra ngoài hết; 01 (một) bình nhựa dùng để dựng nước uống, màu xanh, loại 20 lít, nhãn hiệu GIA NHI; 01 (một) can nhựa dùng để đựng nước rửa, màu trắng, loại 30 lít và 4.452 kg (bốn ngàn bốn trăm năm mươi hai kilogam) củ mì (sắn) tươi.
Và trao trả cho ông Nguyễn Thanh T2 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A14, hiện đã hư hỏng không kiểm tra được chỉ tiết bên trong; 01 (một) cuộn ống nhựa dẻo, màu xanh, đường kính 27mm, hiện đã bị chặt đứt rời thành nhiều đoạn dài ngắn khác nhau, có tổng chiều dài khoảng 30m.
Là có căn cứ, nên chấp nhận.
- Đối với 01 (một) con dao có đặc điểm chiều dài khoảng 50 - 60cm, loại dao rựa mà bị cáo dùng để chặt phá các tài sản của ông T1 và ông T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả. Nên không đề cập xử lý.
+ Đối với 10.000.000đ bị cáo đã giao nộp để khắc phục hậu quả, cần tuyên bảo thủ để bảo đảm thi hành án.
[7] Đối với hành vi và các đối tượng liên quan trong vụ án:
- Đối với hành vi bị cáo dùng tay chân đánh Trần Xuân T1, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0%. Do đó, không đủ cơ sở xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về tội Cố ý gây thương tích. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã đề nghị Công an huyện Đ xử phạt hành chính đối với H là có căn cứ.
- Đối với thương tích của ông Trần Thanh H1 tại thời điểm giám định là: 1% (một phần trăm). Quá trình điều tra xác định thương tích của anh H1 không phải do bị cáo gây ra. Ông H1 khai nhận do Lê Đức T3 gây ra, nhưng T3 không thừa nhận. Quá trình điều tra chưa xác định được thương tích của ông H1 do ai gây ra. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tách hành vi này ra thụ lý tin báo và tiếp tục xác minh xử lý theo quy định là có căn cứ.
- Đối với người đàn ông tên H3 và những người đi cùng H3 trên xe ô tô màu trắng, loại xe 4 chỗ ngồi. Quá trình điều tra không xác minh được những người này và nguồn gốc xe ô tô và cũng không chứng minh được những người này có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
- Đối với các anh Trần Văn D, Nguyễn Ngọc T4, Hoàng Văn D1 và Nguyễn Trọng H2 được bị cáo thuê đi thu hoạch mỳ và thuê đi chở mỳ. Khi đi thì những người này không biết bị cáo đi trộm cắp tài sản. Vì vậy, không có cơ sở để xử lý đối với những người này với vai trò đồng phạm.
- Đối với anh Huỳnh Văn N1: Khi nhận lời thu mua mỳ, bị cáo nói đó là tài sản của bị cáo. Vì vậy, anh N1 không biết đó là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không xử lý anh N1 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.
Do đó Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.
[8] Xét về tính hợp pháp của hành vi và quyết định tố tụng trong quá trình Điều tra và Truy tố: Nhận thấy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Phan Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự và 1.188.000đ án phí dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “ Hủy hoại tài sản ” và “ Trộm cắp tài sản ".
- Về hình phạt chính:
+ Căn cứ khoản 1 Điều 178 ; Điều 38; 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015;
Xử phạt bị cáo Phan Văn H 09 (chín) tháng tù về tội “ Hủy hoại tài sản”.
+ Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015,
Xử phạt bị cáo Phan Văn H 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự;
Tổng hợp hình phạt của tội “Hủy hoại tài sản” và hình phạt tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo Phan Văn H phải chấp hành hình phạt chung là 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn xử phạt bổ sung cho bị cáo Phan Văn H.
+ Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 586; 589; 590 của Bộ luật dân sự:
* Buộc bị cáo Phan Văn H bồi thường cho ông Trần Xuân T1 và bà Lê Thị X 20.790.000đ ( hai mươi triệu bảy trăm chín mươi ngàn đồng), trong đó tiền bồi thường thiệt hại về tài sản là 2.246.000đ, bồi thường thiệt hại về sức khỏe 18.544.000đ.
* Buộc bị cáo Phan Văn H bồi thường cho ông Nguyễn Thanh T2 2.970.000đ (hai triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng)
+ Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tuyên bảo thủ đối với 10.000.000đ (mười triệu đồng) của bị cáo Phan Văn H đã giao nộp, hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ theo biên bản giao nhận ngày 21/02/2024 giữa đại diện cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và đại diện Kho bạc Nhà nước huyện Đ, để bảo đảm thi hành án.
+ Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Buộc bị cáo Phan Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.188.000đ (một triệu một trăm tám mươi tám ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực ( đối với trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay (08/5/2024) bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
- - Công an huyện;
- - Viện kiểm sát huyện;
- - CCTHADS huyện;
- - TAND tỉnh;
- - Bị cáo; bị hại
- - Sở tư pháp;
- - CQTHAHS;
- - Lưu HS.
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Thanh |
Bản án số 32/2024/HSST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm về tội hủy hoại tài sản và trộm cắp tài sản
- Số bản án: 32/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Hủy hoại tài sản và Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 24 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản và Trộm cắp tài sản
