Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 07-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ,TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đào Ngọc Ứng;
  2. Bà Nguyễn Thị Phương Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự (điểm cầu trung tâm) và Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu thành phần), tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Thanh D, sinh ngày 26/8/1996 tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phạm Thanh T, sinh năm 1966 và bà Đặng Kim H, sinh năm 1970; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ: Chưa có. Hiện đang sống chung như vợ chồng với Đặng Thúy K, sinh năm 1998 và có 01 người con tên Phạm Thanh P, sinh năm 2023; tiền sự: Chưa có; tiền án: Ngày 14/5/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự), tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/5/2023; nhân thân: Ngày 13/4/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự), tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong; tạm giữ: Không; bắt tạm giam: Từ ngày 05/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm

giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  1. Đặng Văn B, sinh năm 1969 (đơn xin vắng mặt);
    Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1998 (đơn xin vắng mặt);
    Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thanh N, sinh năm 2000 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Nguyễn Văn S, sinh năm 1988 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng

  1. Lương Văn T1, sinh năm 1982 (vắng mặt);
  2. Lê Tấn Q1, sinh năm 1987 (vắng mặt);
  3. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: Khóm L, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

Tại điểm cầu trung tâm, gồm có: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa.

Tại điểm cầu thành phần, gồm có: Bị cáo Phạm Thanh D; cán bộ hỗ trợ tư pháp: Đồng chí Lê Trung H1 và Đinh Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thanh D có 01 (một) tiền án về tội trộm cắp tài sản, bị Tòa án Nhân dân thành phố Hồng Ngự xử phạt 02 năm 03 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/5/2022. Do muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài nên D tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Khoảng 02 giờ, ngày 12/3/2024, Phạm Thanh D điều khiển xe mô tô 66H1-494.59, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu xanh đen (xe Dọn mượn của anh Nguyễn Thanh N), đi tìm tài sản để lấy trộm, khi đến khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, D thấy lúa ông Đặng Văn B để trong bao, để ở khu vực bờ sông gần đường không người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp bán lây tiên tiêu xài. D dừng xe lại lén lút lấy trộm 02 (hai) bao lúa để lên xe chở đến

khu đất trống thuộc phường A, thành phố H cất giấu, sau khi cất giấu xong, D điều khiển xe quay lại địa điểm lấy trộm trước đó, tiếp tục lấy trộm thêm 02 (hai) bao lúa để lên xe nhanh chóng rời khỏi hiện trường, trên đường đi thì bị người dân phát hiện truy đuổi bắt giữ.

Trong thời gian được tại ngoại điều tra, Phạm Thanh D tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản: Khoảng 00 giờ 30, ngày 29/5/2024, Phạm Thanh D có ý định đi tìm tài sản để trộm, nên tự đi bộ đến khu vực khóm A, phường A thành phố H, tỉnh Đồng Tháp thì phát hiện phía trước nhà anh Nguyễn Văn Q đậu một xe mô tô, loại Wave, màu xanh, biển số 66H9-4433 (thời điểm bị mất trộm xe không gắn biển số) không người trông coi nên D dùng tay đấu dây điện trực tiếp mở khóa xe, điều khiển xe chạy đến khóm S, phường A, thành phố H, bán xe cho Nguyễn Văn S với giá 1.300.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết toàn bộ số tiền bán xe.

- Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “1”, trọng lượng 55,5 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “2”, trọng lượng 57 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “3”, trọng lượng 56 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “4”, trọng lượng 54,4 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-494.59, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu xanh đen, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô màu xanh, không có biển số, đã qua sử dụng; 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 66H9-4433, hiệu WAMUS, số máy 00001482. Đối với biển số xe 66H9-4433, Phạm Thanh D đã ném bỏ, lực lượng chức năng tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy.

- Bản Kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐG ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Giá trị 222,9 kg lúa tươi, giống lúa Đài thơm 8 là 1.780.000 đồng; Giá trị 04 cái bao đựng lúa màu vàng, nhãn hiệu Châu Hương P1, đã qua sử dụng là 28.000 đồng.

- Bản kết luận định giá tài sản số: 35/KL-HĐĐG, ngày 31 tháng 5 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Giá trị 01 (một) xe mô tô, màu xanh, biển số 66H9-4433 đã qua sử dụng là 3.200.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho bị hại Đặng Văn B: 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “1”, trọng lượng 55,5 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “2”, trọng lượng 57 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “3”, trọng lượng 56 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “4”, trọng lượng 54,4 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh N 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-494.59, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu xanh đen, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị hại Nguyễn Văn Q: 01 (một) xe mô tô màu xanh, không gắn biển số, đã qua sử dụng.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh N không yêu cầu.

Trong quá trình điều tra, Phạm Thanh D đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số: 37/CT-VKSTPHN, ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Phạm Thanh D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Phạm Thanh D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Thanh D về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thanh D mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Đối với việc Phạm Thanh D điều khiển xe mô tô biển số 66H1-494.59 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Qua điều tra xác định, xe mô tô này thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Thanh N; N cho D mượn và không biết D sử dụng đi trộm cắp tài sản, do đó không đủ căn cứ xử lý Nguyễn Thanh N với vai trò đồng phạm về tội “Trộm cắp tài sản”, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với việc Phạm Thanh D đem xe mô tô trộm được của anh Nguyễn Văn Q bán cho Nguyễn Văn S với giá 1.300.000 đồng. Qua điều tra xác định, khi mua tài sản anh S không biết D trộm cắp mà có, do đó không đủ căn cứ xử lý Nguyễn Văn S về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị hại Đặng Văn B: 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “1”, trọng lượng 55,5 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “2”, trọng lượng 57 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “3”, trọng lượng 56 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “4”, trọng lượng 54,4 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ;

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh N 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-494.59, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu xanh đen, đã qua sử dụng;

Trả lại cho bị hại Nguyễn Văn Q 01 (một) xe mô tô màu xanh, không gắn biển số, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với biển số xe 66H9-4433, Phạm Thanh D đã ném bỏ, lực lượng chức năng tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Buộc bị cáo Phạm Thanh D nộp lại số tiền 1.300.000 đồng để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh N không yêu cầu đối với bị cáo nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thanh D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thanh D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 14/5/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự), tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/5/2023. Bị cáo sống bằng nghề làm thuê, thu nhập không ổn định, nhưng lại muốn nhanh có tiền để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã tiếp tục đi vào con đường phạm tội, nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác bán để nhằm mục đích lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cụ thể, vào khoảng 02 giờ, ngày 12/3/2024, Phạm Thanh D đã lén lút lấy trộm 04 bao lúa của ông Đặng Văn B thì bị phát hiện truy đuổi bắt giữ. Trong thời gian được tại ngoại điều tra để xử lý thì đến khoảng 00 giờ 30, ngày 29/5/2024, D lại tiếp tục thực hiện hành vi lén lút lấy trộm của anh Nguyễn Văn Q 01 xe mô tô, loại Wave, màu xanh, biển số 66H9-4433 điều khiển xe chạy đến khóm S, phường A, thành phố H, bán xe cho Nguyễn Văn S với giá 1.300.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết toàn bộ số tiền bán xe trộm được.

Căn cứ Bản Kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐG ngày 11/4/2024 và 35/KL-HĐĐG, ngày 31/5/ 2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thì đối với tài sản mà D chiếm đoạt của bị hại Đặng Văn B có giá trị là 1.808.000 đồng; đối với tài sản mà D chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Văn Q có giá trị là 3.200.000 đồng.

Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo; lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Phạm Thanh D đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình trộm cắp trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[3] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đáng ra, qua các lần bị xét xử trên, bị cáo phải biết suy ngẫm lại hành vi sai trái của mình, ăn năn hối cải, ra sức lao động tìm việc làm hợp pháp để có thu nhập chính đáng từ công sức lao động của mình, nhưng bị cáo không làm được điều đó mà ngược lại do không chí thú làm ăn, lại muốn nhanh có tiền tiêu xài, bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, nghiêm trọng hơn trong thời gian được tại ngoại điều tra, xử lý về hành vi trộm cắp tài sản thì bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khác. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức trong tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, tặng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có

đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

[6] Đối với việc Phạm Thanh D điều khiển xe mô tô biển số 66H1-494.59 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Qua điều tra xác định, xe mô tô này thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Thanh N; N cho D mượn và không biết D sử dụng đi trộm cắp tài sản, do đó không đủ căn cứ xử lý Nguyễn Thanh N với vai trò đồng phạm về tội “Trộm cắp tài sản” nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[7] Đối với việc Phạm Thanh D đem xe mô tô trộm được của anh Nguyễn Văn Q bán cho Nguyễn Văn S với giá 1.300.000 đồng. Qua điều tra xác định, khi mua tài sản anh S không biết D trộm cắp mà có, do đó không đủ căn cứ xử lý Nguyễn Văn S về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[8] Về vật chứng vụ án:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị hại Đặng Văn B 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “1”, trọng lượng 55,5 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “2”, trọng lượng 57 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “3”, trọng lượng 56 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ; 01 (một) bao lúa tươi, có đánh số thứ tự “4”, trọng lượng 54,4 kg, loại bao da rắn màu vàng, có chữ màu đỏ;

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh N 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-494.59, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu xanh đen, đã qua sử dụng;

Trả lại cho bị hại Nguyễn Văn Q 01 (một) xe mô tô màu xanh, không gắn biển số, đã qua sử dụng.

Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với biển số xe 66H9-4433, Phạm Thanh D đã ném bỏ, lực lượng chức năng tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với số tiền 1.300.000 đồng, Phạm Thanh D có được từ việc bán xe mô tô trộm cắp mà có cho anh Nguyễn Văn S. Qua điều tra, anh Nguyễn Văn S không yêu cầu nhận lại số tiền này. Tuy nhiên, xét thấy đây là tiền bị cáo có được từ việc phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc Phạm Thanh D nộp lại để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước là phù hợp pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn Q đã nhận lại tài sản bị mất và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh N đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn S không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.300.000 đồng mua xe do bị cáo Phạm Thanh D trộm đem bán. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của đương sự và phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Phạm Thanh D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam: Ngày 05/6/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Buộc bị cáo Phạm Thanh D nộp lại số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng) để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Phạm Thanh D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 07/8/2024). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND. TX. Hồng Ngự;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP. Hồng Ngự;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thống

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger