Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BÌNH LONG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Bản án số: 32/2024/HSST

Ngày 07 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1 Ông Nguyễn Thanh Minh

2. Ông Nguyễn Ngọc Châu

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thiên Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Phong - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/HSST ngày 08 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:28/2024/HSST – QĐXX, ngày 23 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên bị cáo thứ nhất: Lê Quốc C, sinh ngày 10/6/1994, tại Bình Phước, (Tên gọi khác: Cu Tư); Đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không. Cha của bị cáo tên Lê Hiệp T, sinh năm 1963 và mẹ của bị cáo tên Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1965. Tiền sự: Không; Tiền án: 03. Tại Bản án số 40/2012/HSST ngày 19/09/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 20/10/2012, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm và chấp hành các quyết định khác của bản án ngày 21/09/2016. Tại Bản án số 50/2016/HSST ngày 30/09/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong hình phạt 30/09/2016 và đã đóng án phí hình sự sơ thẩm, chấp hành các quyết định khác của bản án ngày 25/09/2023. Tại Bản án số 15/2020/HSST ngày 24/4/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 03/12/2022 và đã chấp hành các quyết định khác của bản án nhưng chưa được xóa án tích.

Nhân thân: Tại Quyết định số 21/QĐ-TA ngày 07/11/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng. Đến ngày 12/6/2019 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên bị cáo thứ hai: Phạm Tiến A, sinh ngày 15/04/1982, tại Bình Phước; (Tên gọi khác: Bé M). Đăng ký thường trú: Tổ A, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Không; Cha của bị cáo tên Phạm Văn T1, sinh năm 1960; Mẹ Đinh Thị Mỹ H, sinh năm 1961; Vợ Nguyễn Thị Phượng T2, sinh năm 1992 (đã ly hôn); Con Phạm Tiến M1, sinh năm 2006. Tiền án: Không. Tiền sự: 01. Tại Quyết định xử phạt hành chính số 04/QĐ - XPHC ngày 05/01/2024 của UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước xử phạt 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 21/12/2023. Bà Trương Thị N là người thân của Phạm Tiến A đã nộp phạt ngày 22/01/2024.

Về nhân thân: Tại Quyết định số 4310/QĐ - UBND ngày 08/11/2005 của UBND huyện B, tỉnh Bình Phước áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng. Đến ngày 26/09/2011 chấp hành xong. Tại Quyết định số 3000/QĐ - UBND ngày 19/12/2012 của Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Phước áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng do nghiện ma túy. Đến ngày 30/11/2014 chấp hành xong. Tại Bản án số 63/2017/HSST ngày 21/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt 27/03/2018, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm và chấp hành các quyết định khác của bản án ngày 27/10/2017.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Bị hại:

2.1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1956 (Vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Tổ H, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.

2.2. Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1979 (Vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Tổ F, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Phan Ngọc L1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ D, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)

3.2. Ông Đỗ Văn T3,sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ A, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 09/01/2024, Phạm Tiến A đi bộ thì tình cờ gặp người quen là Lê Quốc C trên đường. C rủ Phạm Tiến A tìm tài sản chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. Phạm Tiến A đồng ý và cả 02 cùng đi bộ đến đường N khi đi ngang Trung Tâm tiêm chủng VNVC thuộc tổ C, khu phố P, phường P, thị xã B thì cả hai cùng nhìn thấy 01 xe mô tô kiểu dáng giống xe Honda Dream, nhãn hiệu Wonder, biển số 93E1-101.50 của ông Huỳnh Văn S, là nhân viên bảo vệ Trung tâm VNVC dựng ở bãi xe nên C nói với Phạm Tiến A “Có chiếc xe để vô coi lấy được không?”. Phạm Tiến A trả lời “Ai biết đâu, muốn làm gì làm” nên C đi đến gần quan sát rồi quay trở ra nói “Có người trông xe không lấy được”. Sau đó, Phạm Tiến A cùng C tiếp tục đi bộ thì Phạm Tiến A nhìn thấy trong vườn cây Điều nhà bà Nguyễn Thị N1 thuộc tổ H, khu phố P, phường A, thị xã B có dựng 01 cái thang kim loại nên A nói với C “Lấy không?” thì C dùng tay kéo hàng rào lưới B40 tạo thành lỗ hổng để Phạm Tiến A chui người vào trong lấy cái thang chuyền qua hàng rào còn C đứng bên ngoài dùng tay đỡ thang rồi A và C cùng nhau mỗi người một đầu vác thang đi đến bán cái thang cho bà Phan Ngọc L1 là chủ vựa ve chai tọa lạc tại tổ D, khu phố P, phường P, thị xã B, với giá 120.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 09/01/2024, bà N1 phát hiện bị mất thang nên tìm kiếm và phát hiện cái thang tại vựa ve chai gần nhà do bà L1 làm chủ và mua lại cái thang với giá 150.000 đồng. Sau khi bán thang xong Phạm Tiến A cùng Lê Quốc C đi bộ quay lại Trung tâm VNVC nhìn thấy xe mô tô của ông Huỳnh Văn S vẫn còn dựng tại bãi để xe nên C nói “Xe còn kìa để em vô lấy”. Phạm Tiến A trả lời “Lấy thì đi luôn đi” nghĩa là Anh thống nhất với C trong việc chiếm đoạt xe mô tô đồng thời Anh tiếp tục đi bộ còn C đi vào bãi xe dắt chiếc xe mô tô của ông S rời vị trí khoảng 02 m, khởi động máy điều khiển xe chạy đến chở Phạm Tiến A ngồi phía sau về nhà Lê Quốc C để xe mô tô chiếm đoạt sau nhà C tại tổ A, khu phố P, phường A. Đến khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 09/01/2024 Phạm Tiến A đi bộ đến nhà C điều khiển xe mô tô chiếm đoạt của ông S tìm nơi bán xe nhưng không được. Sau đó Phạm Tiến A quay lại khu vực nhà C bán chiếc xe mô tô cho ông Đỗ Văn T3 được 900.000 đồng. Phạm Tiến A nói dối với Lê Quốc C là bán xe chiếm đoạt được 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) và đưa cho C 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Đến 19 giờ 50 phút cùng ngày, ông Huỳnh Văn S phát hiện mất xe nên báo với Công an phường P. Tiếp nhận nguồn tin Công an phường tiến hành xác minh và xem lại camera an ninh khu vực Trung Tâm tiêm chủng VNVC do Công an phường quản lý xác định được hình ảnh Lê Quốc C điều khiển xe mô tô chở Phạm Tiến A nên phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B xác minh và làm việc thì Phạm Tiến A và Lê Quốc C đã khai nhận việc chiếm đoạt xe máy của ông Huỳnh Thanh S1 và một cái thang kim loại của bà Nguyễn Thị N1. Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô Wonder, biển số 93E1-101.50 do ông Đỗ Văn T3 giao nộp; 01 thang kim loại dài 03m do bà Nguyễn Thị N1 giao nộp. Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL - HĐĐGTS ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã B, kết luận:

  • - 01 xe mô tô, nhãn hiệu Wonder, màu nâu, số máy FMG340067052, số khung G033HL001565, biển số 93E1 - 10150, mua cũ đầu năm 2023, với giá 5.000.000₫ (Năm triệu đồng), trị giá 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
  • - 01 thang kim loại, đã qua sử dụng, dài 03 mét, trị giá: 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Tổng cộng là 4.000.000đ (bốn triệu đồng).

Tại bản cáo trạng số: 30/CT - VKS - HS ngày 05/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long đã truy tố các bị cáo: Lê Quốc C về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Phạm Tiến A về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Lê Quốc C mức án từ 2 (H1) năm tù đến 2 (Hai) năm 6 (S2) tháng tù; Đề nghị tuyên phạt bị cáo Phạm Tiến A từ 1 (Một) năm tù, đến 1 (Một) năm 6 (S2) tháng tù.

Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho bà Nguyễn Thị N1 01 thang kim loại và đã trả lại cho ông Huỳnh Văn S 01 xe mô tô Wonder, màu nâu, số máy FMG340067052, số khung G033HL001565, biển số 93E1-10150.

Về dân sự: - Bị hại Nguyễn Thị N1 và ông Huỳnh Văn S đã nhận lại tài sản chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường thêm gì.

- Bà Phan Ngọc L1 và ông Đỗ Văn T3 không yêu cầu Phạm Tiến A và Lê Quốc C hoàn trả tiền mua nhầm tài sản.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Bị hại bà Nguyễn Thị N1 và ông Huỳnh Văn S; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Ngọc L1 và ông Đỗ Văn T3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có nguyện vọng đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị N1 và ông Huỳnh Văn S, bà Phan Ngọc L1 và ông Đỗ Văn T3.

[2] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra các bị cáo Lê Quốc C và bị cáo Phạm Anh T4 khai nhận vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, bị cáo C cùng với Phạm Anh T4 lén lút chiếm đoạt một cái thang kim loại của bà Nguyễn Thị N1, tại địa chỉ tổ H, khu phố P, phường A, thị xã B, trị giá 500.000 đồng và sau đó chiếm đoạt một chiếc xe máy mô tô của ông Huỳnh Văn S, tại Trung tâm T5 có địa chỉ tại tổ C, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, trị giá 3.500.000 đồng, tổng trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng). Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai của các bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo Lê Quốc C đang có 3 tiền án: Tại Bản án số 40/2012/HSST ngày 19/09/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 20/10/2012, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm và chấp hành các quyết định khác của bản án ngày 21/09/2016. Tại Bản án số 50/2016/HSST ngày 30/09/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong hình phạt 30/09/2016 và đã đóng án phí hình sự sơ thẩm, chấp hành các quyết định khác của bản án ngày 25/09/2023. Tại Bản án số 15/2020/HSST ngày 24/4/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã chấp hành xong hình phạt ngảy 03/12/2022 và đã chấp hành các quyết định khác của bản án nhưng chưa được xóa án tích. Nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng tránh nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bản cáo trạng số 30/CT-VKS - HS ngày 05/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long truy tố bị cáo Phạm Tiến A về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố bị cáo Lê Quốc C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo Lê Quốc C và bị cáo Phạm Anh T4 thành khẩn khai báo nhận ra lỗi lầm, ăn năn hối cải về hành vi sai trái của mình chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án thấp để chấp hành tốt mong sớm được đoàn tụ cùng gia đình và bị cáo hứa không tái phạm.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo C tham gia trong vụ án này có vai trò dùng tay kéo hàng rào lưới B40 tạo thành lỗ hổng để bị cáo Phạm Tiến A chui người vào trong vườn của gia đình bà N1 trộm cắp 01 cái thang kim loại của bà Nguyễn Thị N1 mang bán lấy tiền, sau đó tiếp tục quay lại để trộm cắp xe mô tô của ông S; bị cáo C đi vào bãi để xe, dắt chiếc xe mô tô của ông S rời vị trí khoảng 02 m, khởi động máy điều khiển xe chạy đến chở Phạm Tiến A ngồi phía sau về nhà Lê Quốc C cất dấu sau đó bị phát hiện và bắt giữ, bị cáo phải chịu về hành vi phạm tội do mình gây ra.

Bị cáo Phạm Tiến A là người trực tiếp chui người vào trong nhà của bà Nguyễn Thị N1 lấy trộm 01 cái thang kim loại bà Nguyễn Thị N1 mang bán lấy tiền, sau đó các bị cáo tiếp tục đến trộm cắp xe mô tô của ông Huỳnh Văn S, bị cáo A đứng bên ngoài cảnh giới cho bị cáo C thực hiện trộm cắp xe mô tô của ông S, trong khi bị cáo A đã có 1 tiền sự: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 04/QĐ - XPHC ngày 05/01/2024 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước xử phạt 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 21/12/2023, đến ngày 22/01/2024 nộp phạt nay, trong một thời gian ngắn bị cáo A đã 2 lần thực hiện hành vi trộm cắp nên phải chịu tình tiết tăng nặng tránh nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bản thân các bị cáo đã trưởng thành và có đủ năng lực hành vi để nhận thức về việc làm của mình. Do ham chơi lười lao động, bị cáo C và bị cáo A không tu tâm, tu chí làm ăn lương thiện mà nãy lòng tham đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị N1 và ông Huỳnh Văn S nhằm kiếm tiền tiêu xài cho bản thân. Các bị cáo tham gia trong vụ án này mặc dù không phân công nhưng có sự phối hợp, vai trò đồng phạm trong các lần trộm cắp là ngang nhau cho nên phải chịu trách nhiệm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của các bị cáo Lê Quốc C và Phạm Tiến A là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của các bị hại, ảnh hưởng đến tình hình chung của xã hội, gây hoang mang trong nhân dân. Cần phải xử phạt nghiêm đối với các bị cáo, phải cách ly các bị cáo Lê Quốc C và Phạm Tiến A ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, rèn luyện trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, tài sản đã thu hồi và trả lại cho các bị hại theo quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm cho một phần hình phạt lẽ ra các bị cáo phải chịu cũng để thể hiện tính nhân đạo và hướng thiện của pháp luật.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát đề xuất mức án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho bà Nguyễn Thị N1 01 thang kim loại và đã trả lại cho ông Huỳnh Văn S 01 xe mô tô Wonder, màu nâu, số máy FMG340067052, số khung G033HL001565, biển số 93E1-10150. Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về dân sự:

[5.1] Bị hại bà Nguyễn Thị N1 và ông Huỳnh Văn S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm gì nên không đặt ra.

[5.2] Bà Phan Ngọc L1 và ông Đỗ Văn T3 không yêu cầu Phạm Tiến A và Lê Quốc C hoàn trả tiền mua nhầm tài sản nên không đặt ra.

[6]. Về Án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Các bị cáo Lê Quốc C và Phạm Tiến A, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Quốc C và bị cáo Phạm Tiến A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Bị cáo Lê Quốc C 02 (Hai) năm 6 (S2) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 14/01/2024).

2.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Bị cáo Phạm Tiến A 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 14/01/2024).

3. Về Dân sự:

3.1.Bị hại Nguyễn Thị N1 và Huỳnh Văn S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thêm gì nên không đặt ra.

3.2. Bà Phan Ngọc L1 và ông Đỗ Văn T3 không yêu cầu Phạm Tiến A và Lê Quốc C hoàn trả tiền mua nhầm tài sản nên không đặt ra.

4. Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho bà Nguyễn Thị N1 01 thang kim loại và đã trả lại cho ông Huỳnh Văn S 01 xe mô tô Wonder, màu nâu, số máy FMG340067052, số khung G033HL001565, biển số 93E1-10150 Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về Án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Các bị cáo Lê Quốc C và bị cáo Phạm Tiến A mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Đình Tùng

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Bình Long;
  • - Công an thị xã Bình Long;
  • - Chi Cục THA DSTX Bình Long;
  • - Phòng PV27 – CAT Bình Phước;
  • - Bị cáo, bị hại;.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Đình Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HSST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 32/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger