Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 07 – 5- 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Chí Vương

2. Ông Thượng Quang Minh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình

Phước tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2023/HSST ngày 29/02/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 08/4/2024 đối với bị cáo:

Dương Văn L, sinh năm: 1978 tại: Sóc Trăng.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12.

Nơi thường trú: ấp H, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

Nơi ở hiện tại: Tổ C, khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Con ông Dương Văn L1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị Thúy P, sinh năm 1958; Bị cáo có 06 anh chị em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1995; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Vào ngày 12/12/2023 có hành vi Trộm cắp tài sản của người khác, đến ngày 13/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố và Lệnh bắt bị can để tạm giam đến ngày 05/02/2024 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ksor Y T, sinh năm 1997 (có yêu cầu vắng mặt)

Nơi đăng ký thường trú: Buôn Choăh, xã D, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Nơi ở hiện tại: Tổ C, khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

Bà Trần Thị L2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có yêu cầu vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Dương Văn L và Ksor Y T là người cùng làm thuê tại Công ty gỗ “Hoài Như”, đồng thời ở chung dãy nhà trọ “Nguyễn Hải Q” thuộc tổ C, khu phố B, thị trấn T, huyện H.

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/12/2023, do Công ty không có việc làm nên Liệt ở phòng trọ một mình, thấy dãy trọ không có ai và biết T vừa nhận lương nên L nảy sinh ý định vào phòng trọ số 4 của K Y Toan để chiếm đoạt tiền. Liệt cầm 01 cây búa (dài 34cm, đầu búa bằng kim loại hình trụ dài 12cm) đập mạnh vào phần đầu ổ khóa khoảng 03 cái thì ổ khóa phòng của T bung ra. Liệt cầm cây búa về phòng trọ của mình cất và quay lại mở cửa phòng số 4 đi vào trong phòng. Khi vào trong phòng, L thấy có 01 nón bảo hiểm, bên trong có số tiền khoảng 62.000đ và 01 điện thoại di động cảm ứng đã cũ; thấy tài sản không có giá trị nên L không lấy. Lúc này, L đi vào nhà vệ sinh nhìn thấy 01 áo khoác màu đen rồi L dùng tay lục lọi phát hiện có 01 cái ví da màu đen, bên trong có số tiền 17.000.000 đồng (loại tiền mệnh giá 500.000 đồng) nên L cầm hết số tiền trên bỏ vào trong áo đi ra khỏi phòng, đóng cửa lại rồi bóp ổ khóa như cũ. Sau khi chiếm đoạt được số tiền 17.000.000₫ Liệt về phòng cất giấu vào trong gối ôm của L. Sau đó, L đi ra ngoài võng nằm khoảng 20 phút, sợ bị phát hiện nên L dùng cây búa trên đập vào ổ khóa của phòng Liệt bung ra để tạo dấu vết phòng của L cũng bị đột nhập.

Sau khi phát hiện bị mất số tiền 17.000.000đ bị hại Ksơr Y T đã đến Công an thị trấn T trình báo.

Tại Cơ quan Công an, Dương Văn L đã thừa nhận hành vi vi phạm của mình, đồng thời tự nguyện giao nộp số tiền 17.000.000đ cho lực lượng Công an.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 17.000.000đ. Quá trình điều tra xác định số tiền trên là của anh Ksor Y T1. Căn cứ điểm b, khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh K Y Toan theo quy định.

- Đối với 01 (một) ổ khóa màu đen, nhãn hiệu “YHTI” và 01 (một) ổ khóa màu đen, nhãn hiệu “YOfi” là vật chứng của vụ án, hiện không còn giá trị sử dụng. Căn cứ điểm a khoản 02 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy theo quy định.

- Đối với 01 (một) áo khoác màu đen, có dòng chữ “BRAND” màu đỏ và 01 (một) bóp (ví) da màu đen bên ngoài ghi chữ “D&G”. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của anh Ksor Y T1. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án trả lại cho anh K Y Toan theo quy định.

- Đối với 01 (một) áo thun dài tay cổ tròn màu xanh, phía sau cổ áo bên trong có nhãn hiệu TT FASHION; 01 (một) quần thun (dạng thể thao) màu xanh có sọc màu đỏ bên ngoài có logo nền trắng chữ đen “ACM 1899” và 01 (một) gối ôm bằng vải có màu cam, đỏ, trắng, xám, gối ôm có kích thước đo được (0,95x0,15x0,25)cm. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Dương Văn L, tại phiên Tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại, không có giá trị sử dụng. Căn cứ 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tịch thu thiêu hủy theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Ksơr Y T1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên hiện nay không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 28 tháng 02 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đã truy tố Dương Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo không tranh luận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản giữ nguyên truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 6 tháng đến 9 tháng tù.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự vụ án: Đề nghị xử lý như nội dung cáo trạng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ý kiến, khiếu nại gì nên hợp pháp.

Bị hại có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố bị hại đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung vụ án, tài sản bị chiếm đoạt bị hại đã nhận lại và bị hại không yêu cầu gì thêm nên việc vắng mặt bị hại tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử vụ án mà vắng bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại vắng mặt, HĐXX xét thấy bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo, tài sản bị chiếm đoạt bị hại đã nhận lại nên việc việc người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại vắng mặt không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử vụ án mà vắng mặt người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/12/2023, tại tổ C, khu phố B, thị trấn T, huyện H, Dương Văn L đã có hành vi lén lút phá khóa cửa vào phòng Y T1 chiếm đoạt số tiền 17.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Dương Văn L lén lút chiếm đoạt số tiền 17.000.000₫ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đã truy tố.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời

gây mất an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì cần tiền tiều xài cá nhân nên bị cáo đã cố ý thực hiện, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo còn cố tình tạo dựng hiện trường giả làm khó khăn cho công tác điều tra, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo nên cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền đã chiếm đoạt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Tại phiên tòa đề nghị xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát như đề nghị trong nội dung bản cáo trạng là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6]. Về dân sư: Quá trình điều tra bị hại đã nhận lại tài sản của mình và không yêu cầu gì thêm nên không phát sinh trách nhiệm về dân sự.

[7]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Tại phiên tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt có căn cứ pháp luật; phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Dương Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Dương Văn L mức án 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi Thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 13/12/2023 đến ngày 05/02/2024.

3. Về xử lý vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

01 (một) ổ khóa màu đen, nhãn hiệu “YHTI” và 01 (một) ổ khóa màu đen, nhãn hiệu “YӨfi”.

01 (một) áo thun dài tay cổ tròn màu xanh, phía sau cổ áo bên trong có nhãn hiệu TT FASHION; 01 (một) quần thun màu xanh có sọc màu đỏ bên ngoài có logo nền trắng chữ đen “ACM 1899” và 01 (một) gối ôm bằng vải có màu cam, đỏ, trắng, xám.

- Trả lại cho Ksor Y Toan 01 (một) áo khoác màu đen, có dòng chữ “BRAND” màu đỏ và 01 (một) bóp (ví) da màu đen bên ngoài ghi chữ "D&G".

(Các vật chứng được mô tả và đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản theo Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản số 0005973 ngày 19/3/2024 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước).

4. Về án phí sơ thẩm:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Bị cáo Dương Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Công an huyện Hớn Quản;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại;
  • - Lưu: TA, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đình Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ok
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger