Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/5/2024

V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trịnh Đoàn Hạnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân

Bà Thạch Thị Lan Nhung

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Khắc Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đặng Thành D, sinh năm: 1979

Địa chỉ: Nhà ông Đặng Anh T, thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Hồng L, sinh năm: 1978

Địa chỉ: Nhà ông Trần Văn H, thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(Tại phiên tòa, ông Đặng Thành D vắng mặt, bà Trần Thị Hồng L có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn ông Đặng Thành D trình bày: Năm 1999 ông Đặng Thành D và bà Trần Thị Hồng L về chung sống với nhau, xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 19/11/1999. Sau khi kết hôn về sống chung với nhau cuộc sống vợ chồng ông bà hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên đến năm 2011 thì xảy ra rất nhiều mâu thuẫn, bất hòa, cãi nhau thường xuyên, nguyên nhân là do vợ chồng ông bà bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Đến giữa năm 2018 ông D đã làm đơn ly hôn gửi đến Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà nhưng trong quá trình giải quyết ông D đã rút đơn về để vợ chồng hàn gắn nhưng không thể được, bà L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ năm 2018 cho đến nay. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã quá trầm trọng, ông D xác định không còn tình cảm với bà L, ông bà không thể tiếp tục chung sống với nhau. Vì vậy, ông D yêu cầu ly hôn với bà L.

Vợ chồng ông bà có ba con chung là Đặng Thị Khánh L1, sinh ngày 07/11/2000; Đặng Tuệ Q, sinh ngày 27/01/2002 và Đặng Thị Yến N, sinh ngày 10/3/2007. Khi ly hôn ông D không yêu cầu giải quyết đối với con chung là Đặng Thị Khánh L1 và Đặng Tuệ Q vì hiện nay các con đã trưởng thành và đã có gia đình riêng. Đối với con chung là Đặng Thị Yến N thì ông D yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của con, con có nguyện vọng ở với ai thì người đó nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng ông bà không có nên ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra ông D không còn yêu cầu gì khác.

2. Quá trình tham gia tố tụng bị đơn bà Trần Thị Hồng L trình bày: Bà Trần Thị Hồng L và ông Đặng Thành D xây dựng gia đình với nhau năm 1999, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng kí kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 19/11/1999. Quá trình chung sống ông bà hòa huận hạnh phúc đến năm 2011 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng ông bà bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay ông D yêu cầu ly hôn thì bà L đồng ý.

Bà Trần Thị Hồng L và ông Đặng Thành D có ba con chung là Đặng Thị Khánh L1, sinh ngày 07/11/2000; Đặng Tuệ Q, sinh ngày 27/01/2002 và Đặng Thị Yến N, sinh ngày 10/3/2007. Hiện nay con chung là Đặng Thị Khánh L1 và Đặng Tuệ Q đã trưởng thành và đã có gia đình riêng nên bà L không yêu cầu giải quyết. Đối với con chung là Đặng Thị Yến N thì bà L yêu cầu được nuôi con và yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng một tháng.

Về tài sản chung: Bà Trần Thị Hồng L và ông Đặng Thành D có mua một lô đất nhưng năm 2017 ông bà đã bán được 120.000.000đồng nhưng ông D giữ và gửi vào sổ tiết kiệm nên bà L yêu cầu ông D phải chia cho bà L số tiền trên.

Về nợ chung: Bà Trần Thị Hồng L và ông Đặng Thành D không có nên không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các bên vắng mặt. Vì vậy, Tòa án triển khai đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, các bên đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến như trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông Đặng Thành D. Xử cho ông Đặng Thành D và bà Trần Thị Hồng L được ly hôn;

Về con chung: Giao con là Đặng Thị Yến N cho bà L có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Ông D cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng một tháng

Các vấn đề khác không đặt ra để xem xét giải quyết. Buộc ông D phải chịu án phí về việc ly hôn và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa ông Đặng Thành D vắng mặt nhưng ông D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông D là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Thành D và bà Trần Thị Hồng L xây dựng gia đình với nhau năm 1999, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng kí kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 19/11/1999 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Quá trình chung sống ông bà hòa huận hạnh phúc đến năm 2011 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng ông bà bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã và đã tự sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay ông D yêu cầu ly hôn thì bà L đồng ý.

Xét thấy, ông D và bà L đều xác định đến nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài do vợ chồng bất đồng quan điểm và ông bà cũng đã sống ly thân trong một thời gian dài nhưng hai bên không có biện pháp gì để giải quyết mâu thuẫn mà phần ai người nấy sống, không còn sự quan tâm, chăm sóc đến nhau. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của ông D, xử cho ông D và bà L được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

[3] Về con chung: Ông Đặng Thành D và bà Trần Thị Hồng L có có ba con chung là Đặng Thị Khánh L1, sinh ngày 07/11/2000; Đặng Tuệ Q, sinh ngày 27/01/2002 và Đặng Thị Yến N, sinh ngày 10/3/2007. Xét thấy, con chung là Đặng Thị Khánh L1 và Đặng Tuệ Q hiện nay đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên không đặt ra để xem xét xét giao cho bố hoặc mẹ có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục mà đây là trách nhiệm chung của ông D, bà L đối với các con ông bà.

Đối với con chung là Đặng Thị Yến N hiện nay đã trên 07 tuổi và trình bày nguyện vọng được sống với mẹ khi bố mẹ ly hôn và từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay thì cháu N ở với bà L ổn định. Vì vậy, cần giao cháu N cho bà L có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa bà L yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng một tháng. Ông D vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại biên bản làm việc ngày 20/3/2024 tại Tòa án (BL 28) ông D và bà L thống nhất giao con là Đặng Thị Yến N cho bà L nuôi dưỡng, ông D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng một tháng. Xét thấy, đây là quyền lợi chính đáng của con và thể hiện trách nhiệm làm cha, làm mẹ của ông D, bà L đối với con khi ông bà ly hôn, người không trực tiếp nuôi con thì cấp dưỡng nuôi con nên cần buộc ông D cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng một tháng là phù hợp.

[5] Về tài sản chung: Ông Đặng Thành D và bà Trần Thị Hồng L xác định trong thời kỳ hôn nhân ông bà có mua một lô đất nhưng năm 2017 ông bà đã bán được 120.000.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án ông D xác định số tiền trên ông bà đã sử dụng hết, hiện nay không có tài sản gì chung nên ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết còn theo bà L thì lô đất này bán được 120.000.000đồng nhưng ông D giữ và gửi vào sổ tiết kiệm nên bà L yêu cầu ông D phải chia cho bà L số tiền trên. Tòa án đã hướng dẫn bà L làm đơn khởi kiện chia tài sản chung nhưng bà L không làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung trong vụ án này và bà L cũng không nộp các tài liệu chứng cứ chứng minh vấn đề tài sản nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để giải quyết vấn đề tài sản chung trong vụ án này.

[6] Về nợ chung: Ông Đặng Thành D và bà Trần Thị Hồng L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.

[7] Về án phí: Buộc ông Đặng Thành D phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Đặng Thành D, xử cho ông Đặng Thành D và bà Trần Thị Hồng L được ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung là Đặng Thị Yến N, sinh ngày 10/3/2007 cho bà Trần Thị Hồng L có trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con.

Ông Đặng Thành D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) một tháng, thời gian cấp dưỡng nuôi con kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trở đi cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chấm dứt theo quy định của pháp luật.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (khi án đã có hiệu lực pháp luật) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Ông Đặng Thành D phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn và 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con, cộng chung là 600.000đồng (Sáu trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Đặng Thành D đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004480 ngày 28/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Ông Đặng Thành D còn phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/5/2024) bà Trần Thị Hồng L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo. Riêng ông Đặng Thành D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu AV - HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Đoàn Hạnh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa anh D và chị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger