Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 06 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Sỹ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Trường;
  2. Ông Trần Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo Lê Xuân C; sinh năm 1991 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nơi sinh sống khi bị bắt: Thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân H và bà Phạm Thị N; có vợ là Nguyễn Thu H1 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 130/2012/HSST, ngày 21/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong bản án ngày 09/11/2014 và đã được xóa án tích; tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số: 13/QĐ-TA, ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc 18 tháng, bị cáo chấp hành xong quyết định ngày 15/12/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 27/12/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện D. Có mặt.

  1. Bị cáo Ngô Văn A; sinh năm 1987 tại Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn N1 và bà Phạm Thị D; có vợ là Nguyễn Thị Nhã P và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2010/HSST, ngày 24/6/2010 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 24/3/2012 và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 27/12/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện D. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, Công an huyện D phối hợp với Công an xã Đ bắt quả tang Lê Xuân C bán ma túy cho Ngô Ngọc A1 tại phòng khách trong nhà ở của Lê Xuân C thuộc Thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vật chứng thu giữ gồm:

  • Thu giữ của Ngô Văn A 01 đoạn ống hút màu tím sọc trắng được hàn kín 02 đầu bên trong chứa chất bột màu trắng (Ký hiệu M5).
  • Thu giữ của Lê Xuân C 01 hộp nhựa màu đen nắp đỏ bên trong có 01 gói nilon kích thước 6,5cm x 05cm chứa 04 viên nén màu đỏ (Ký hiệu M4) và 01 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M3); 01 gói nylon kích thước 7cm x 4,5cm chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M2); 01 nylon kích thước 7cm x 4,5cm chứa chất bột màu trắng (Ký hiệu M1) và 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.
  • Vào lúc 13 giờ cùng ngày, Công an huyện D tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Xuân C tại Thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng thu giữ được trong phòng ngủ 01 gói nylon kích thước 04 x 7,5 cm bên trong chứa chất bột màu trắng (Ký hiệu M6) và 01 gói nylon kích thước 6,5 x 07 cm chứa chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M7).

- Tại Bản kết luận giám định số 1613/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

  • Mẫu cục bột (M1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4416g (không phẩy bốn bốn một sáu gam), loại Heroine (H).
  • Mẫu chất bột (M5) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2153g (không phẩy hai một năm ba gam), loại Heroine (H).
  • Mẫu tinh thể (M2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,6924g (một phẩy sáu chín hai bốn gam), loại Methamphetamine.

Đối với các chất còn lại được niêm phong gửi giám định, Phòng K Công an tỉnh L không có đủ phương tiện kỹ thuật để giám định mẫu trên là chất gì nên đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện D gửi mẫu vật trên đến phân viện KHHS Bộ C2 để giám định.

- Tại bản Kết luận giám định số 1121/KL-KTHS ngày 22/02/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Các mẫu kỷ hiệu M3, M4, M6, M7 được niêm phong gửi giám định đều không tìm thấy thành phần các chất ma túy, tiền chất theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP đề ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ.

- Quá trình điều tra Lê Xuân C khai bản thân nghiện ma túy từ 2015. Vào ngày 14/12/2023 Lê Xuân C đón xe khách đi từ huyện D, tỉnh Lâm Đồng đến khu vực ngã tư A tại Thành phố Hồ Chí Minh để mua của người tên C1 (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) 10.000.000 đồng ma túy gồm: 2.800.000 đồng ma túy loại Heroine; 4.000.000 đồng ma túy loại Methamphetamine; 3.200.000 đồng ma túy loại Ketamine và MDMA. Khi mang ma túy về đến nhà tại Thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, C chia ma túy loại Heroine thành 02 phần, trong đó một phần để bản thân sử dụng và đã sử dụng hết; phần Heroine còn lại C đựng trong 01 gói nilon để bán kiếm lời, đã bán một phần cho Ngô Văn A thu được số tiền 200.000 đồng. Đối với số ma túy còn lại là 04 viên nén màu đỏ và 02 gói nilon chứa chất tinh thể màu trắng là Methamphetamine, Ketamine và MDMA C cất giấu để sử dụng cho bản thân; riêng đối với 02 gói nylon thu giữ trong phòng ngủ khi khám xét khẩn cấp C xác định không phải là ma túy mà là đường phèn và bột sắn dây.

- Ngô Văn A khai bản thân nghiện Heroine từ năm 2014. Khoảng gần 11 giờ ngày 19/12/2023, Ngô Văn A đến nhà Lê Xuân C tại Thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng để mua 200.000 đồng Heroine. Sau khi Ngô Văn A trả cho Lê Xuân C 200.000 đồng gồm 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng thì Lê Xuân C lấy một ít Heroine trong gói nilon bỏ vào 01 đoạn ống hút màu tím có sọc trắng và hàn kín 02 đầu đưa cho Ngô Văn A. Sau đó Ngô Văn ALê Xuân C đang ngồi nói chuyện thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện D bắt quả tang.

- Tại bản Cáo trạng số: 35/CTr-VKS ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố Lê Xuân C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với khối lượng 0,6569 gam Heroin theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với khối lượng 1,6924 gam Methamphetamine theo điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; truy tố Ngô Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với khối lượng 0,2153 gam Heroine theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Kết quả thẩm vấn tại phiên tòa:

  • Bị cáo Lê Xuân C thừa nhận đã cất giấu 1,6924 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra bị cáo còn cất giấu 0,6569 gam ma túy loại Heroin để bán kiếm lời, trong đó đã bán cho Ngô Văn A 0,2153 gam ma túy loại Heroine thu được 200.000 đồng thì bị bắt quả tang. Đối với 04 viên nén màu đỏ và 01 gói nilon chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M3, M4) giám định không phải là ma túy nhưng C tưởng lầm là ma túy nên đã cất giấu để sử dụng cho bản thân; riêng đối với 02 gói nylon thu giữ trong phòng ngủ khi khám xét khẩn cấp (ký hiệu M6, M7) C khẳng định là đường phèn, bột sắn dây để C sử dụng không phải là ma túy. Đối với người bán ma túy cho C là nam giới thường gọi là C1, khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1,6m nói giọng miền nam C mới gặp hai lần tại ngã tư A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không biết họ tên đầy đủ và nhân thân, địa chỉ của người này để cung cấp cho cơ quan Điều tra.
  • Bị cáo Ngô Văn A thừa nhận đã mua và nhận từ Lê Xuân C 0,2153 gam ma túy loại Heroine để sử dụng như chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
  • Đại diện Viện kiểm sát huyện D, tỉnh Lâm Đồng khẳng định cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Xuân C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Ngô Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử lý như sau:
  • Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân C từ 36 đến 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội theo Điều 55 của Bộ luật hình sự.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn A từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 hộp nhựa màu đen, nắp màu đỏ và toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói vật chứng; tịch thu sung công quỹ 200.000 đồng bị cáo Lê Xuân C có được từ việc bán ma túy.
  • Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong đồ vật bị tạm giữ, phiếu xét nghiệm chất ma túy ngày 19 tháng 12 năm 2023; Kết luận giám định số 1613/KL-KTHS ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh L; Kết luận giám định số 1121/KL-KTHS ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh. Qua đó có cơ sở xác định như sau:

[2.1] Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Lê Xuân C: Vào ngày 19/12/2023 bị cáo Lê Xuân C đã bán cho Ngô Văn A 0,2153 gam ma túy loại Heroine. Ngoài ra, Lê Xuân C còn cất giấu 0,4416 gam ma túy loại Heroin để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo C đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[2.2] Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lê Xuân C: Bên cạnh hành vi mua bán trái phép chất ma túy nêu trên, vào ngày 19/12/2023 bị cáo Lê Xuân C còn cất giấu 1,6924 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Đối với các mẫu vật ký hiệu M3, M4 Lê Xuân C tưởng lầm là ma túy nên cất giấu để sử dụng cho bản thân mà không nhằm bán kiếm lời, các mẫu vật ký hiệu M6, M7 ngay khi bị phát hiện Lê Xuân C đã xác định không phải là ma túy. Tại Kết luận giám định số 1121/KL-KTHS ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận không tìm thấy thành phần các chất ma túy, tiền chất trong các mẫu vật ký hiệu M3, M4, M6, M7. Do đó, hành vi của bị cáo C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[2.3] Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Ngô Văn A: Vào ngày 19/12/2023, bị cáo Ngô Văn A đã mua và nhận được từ Lê Xuân C 0,2153 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Ngô Văn A đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[3] Tình hình tội phạm về ma túy tại địa phương hiện nay có diễn biến phức tạp và là một trong những nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo trước đây đều đã bị xử lý hình sự nhưng không lấy đó làm bài học mà nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống bình thường một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phục vụ công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, các bị cáo thành khẩn khai báo, năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Đối với bị cáo C bị xét xử cùng một lần về hai tội nên cần quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Đối với người bán ma túy cho bị cáo Lê Xuân C có tên “C1” không có thông tin đầy đủ và chưa xác định được nhân thân lai lịch nên cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh xử lý là phù hợp. Đối với 01 hộp nhựa màu đen, nắp màu đỏ và toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định cùng bao gói vật chứng cần tịch thu tiêu hủy; đối với 200.000 đồng bị cáo Lê Xuân C có được do bán ma túy cần tịch thu sung công quỹ.

[5] Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án. Cần buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Xuân C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân C 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân C 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  4. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Lê Xuân C phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2023.
  5. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn A 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2023.
  6. Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án
  7. Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 hộp nhựa màu đen, nắp màu đỏ kích thước 08cm x 04cm và toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định cùng bao gói vật chứng. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 200.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Lê Xuân C (Toàn bộ số tiền và vật chứng nêu trên đã được Công an huyện D bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 02/4/2024)
  8. Buộc bị cáo Lê Xuân C và bị cáo Ngô Văn A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  9. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - CQ Điều tra CA huyện Di Linh;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - Bị cáo;
  • - Bộ phận Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - Lưu HS, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger