Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/DS-ST

Ngày 05/6/2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến; bà Nguyễn Thị Phú.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Phụng, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2024/TLST-DS, ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-DS ngày 15/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/QĐST-DS ngày 29/5/2024 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Khắc D, sinh năm 1988; Có mặt.

HKTT: Địa chỉ: Khu phố Đ, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1963; vắng mặt

HKTT: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

  • Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; vắng mặt
  • Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991; vắng mặt
  • Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1986; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là ông Nguyễn Khắc D trình bày:

Ngày 16/10/2023 ông D có nhận chuyển nhượng thửa đất số 313, tờ bản đồ số 23, diện tích 789 m² địa chỉ thửa đất ở thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (sau đây gọi tắt là thửa đất số 313) của ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1980; HKTT: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất có tứ cận theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trích lục bản đồ địa chính: Phía Đông Bắc dài 35,66m; phía Đông Nam dài 19,97m; phía Đông Bắc dài 29,8m; 5,89m; phía Tây Bắc dài 25,21 m (giáp nhà bà S).

Nguồn gốc thửa đất do ông T nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1963 ở cùng thôn, khi nhận chuyển nhượng, thửa đất 313 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn H3. Sau các lần chuyển nhượng qua các chủ sử dụng, mọi người đều không xin cấp đổi phôi sổ đỏ, kể cả ông D nên nội dung chuyển nhượng được ghi tại trang 3 và trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Việc chuyển nhượng thửa đất số 313 giữa ông Nguyễn Hữu T và ông được thực hiện trên cơ sở theo quy định của pháp luật, hai bên đã ký kết thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng theo quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông đã trả đủ số tiền mua đất theo thỏa thuận cho ông Nguyễn Hữu T, ông Nguyễn Hữu T đã bàn giao thửa đất số 313 cho ông, ông đã xuống thực địa nhận thửa đất trong tình trạng thửa đất có xây tường bao quanh đất bằng cay ở cạnh phía T; phía Đông Nam và phía Đông Bắc, Riêng cạnh phía Tây Bắc giáp nhà bà Nguyễn Thị S có xây tường bao bằng cay, giáp tường bao khoảng 50 cm là căn nhà cấp 4 của bà S xây từ trước khi ông nhận chuyển nhượng thửa đất.

Khi nhận bàn giao thửa đất số 313, thấy khuôn đất rõ ràng, nên ông chủ quan không đo kiểm tra bằng máy mà chỉ kiểm tra bằng phương pháp đo tay thấy tương đối đủ. Đến tháng 11/2022 ông có nhờ người đo lại thì thấy thửa đất của ông bị bà Nguyễn Thị S lấn chiếm sử dụng sang phần đất của ông khoảng 20m2. Ông đã thương lượng với bà S nhưng không có kết quả, sự việc cũng đã được UBND xã N hòa giải nhưng bà S không hợp tác. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà S phải trả lại phần đất bà S đã lấn chiếm của ông. Ông đề nghị Tòa án tiến hành đo máy thửa đất 313 và thửa đất 312 của S1 để làm căn cứ chính xác cho việc giải quyết vụ án.

Đối với việc nhận chuyển nhượng thửa đất 313, tại thời điểm chuyển nhượng vợ ông đi làm công nhân, thường xuyên vắng mặt tại nhà nên không có điều kiện tham gia mọi vấn đề có liên quan đến thửa đất nên đã có đơn khước từ tài sản, hiện nay thửa đất mang tên các nhận ông D. Do vậy việc khởi kiện tại Tòa án cũng chỉ có mình ông đứng nguyên đơn, vợ ông không có ý kiến và không liên quan, ông đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông.

Phía bị đơn, bà Nguyễn Thị S đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà S đều vắng mặt nên không có bản tự khai, quá trình làm việc tại buổi đo đạc thẩm định tài sản, bà S cho biết bà và ông Nguyễn Văn H3 đã giải quyết ly hôn vào năm 2016. Tại bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã giải quyết cho vợ chồng bà được ly hôn, về tài sản chung vợ chồng bà mỗi người được chia ½ thửa đất núi tại thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, theo bản án cạnh phía Đông Bắc giáp với hộ ông Nguyễn Văn D1 có chiều dài là 30,34 m, theo đó bà và các con đã tự kéo thước lấy đủ chiều dài theo bản án đã tuyên đồng thời xây 01 nhà cấp 4 tiếp giáp với phần diện tích đất của ông H3. Bà xác định diện tích hiện nay bà và các con đang sử dụng tiếp giáp với diện tích đất của ông H3 là diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bà, bà không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Phía người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Văn H2 cũng đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, Tòa án đã giao giấy triệu tập và các văn bản trong quá trình tố tụng của Tòa án, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Văn H1 đã nhận được nhưng vắng mặt, nên không có bản tự khai, biên bản lấy lời khai đối với bà H, ông H2, ông H1.

Tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Nguyễn Khắc D trình bày: Sau khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định và đo đạc thửa đất 313 và 312 (thửa đất của bà S) kết quả đo đạc thể hiện bà S cùng các con đang sử dụng thửa đất 312 chồng lấn sang thửa đất số 313 của ông là 43,2 m². Trong đơn khởi kiện ban đầu và các lời khai tiếp theo tại Tòa án ông đều yêu cầu bà S, cùng các con phải trả lại cho ông phần diện tích đất mẹ con bà S đang sử dụng xâm lấm sang diện tích đất của ông. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay, ông nhận thấy diện tích đất này mẹ con bà S đã sử dụng từ khi được phân chia tài sản chung vợ chồng cho đến nay, trước thời điểm ông nhận chuyển nhượng thửa đất. Hiện vợ chồng chị H, anh H1 đã xây nhà kiên cố trên phần đất xâm lấn này từ nhiều năm, nên ông không yêu cầu vợ chồng chị H anh H1 phải phá, tháo giỡ nhà và yêu cầu bà S phải trả ông 43,2 m2 bằng giá trị tiền mặt là 259.200.000 đồng. Tại phiên tòa ông D cho biết, hiện tự nguyện không yêu cầu bà S trả ông số tiền nêu trên.

Phía Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S; bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Văn H1 cũng đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt.

Cũng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự qui định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 72, 73, 234 Bộ luật tố tụng dân sự .

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 227, 228 BLTTDS; Điều 166, 167, 170, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 160, 161, 163, 166 175, 176, 221 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Khắc D về việc yêu cầu bà S phải trả 43,2 m² đất.
  • - Buộc bà Nguyễn Thị S phải trả cho ông Nguyễn Khắc D giá trị diện tích đất xâm lấn của ông D là 259.200.000 đồng. (Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Khắc D tại phiên tòa, không yêu cầu bà Nguyễn Thị S phải trả cho ông D số tiền 259.200.000 đồng).
  • - Bà Nguyễn Thị S được sử dụng 43,2 m² đất của ông Nguyễn Khắc D tại thửa đất số 313, tờ bản đồ số 23, ở thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
  • - Xác nhận ông Nguyễn Khắc D được quyền sử dụng diện tích đất còn lại tại thửa đất 313, tờ bản đồ số 23 ở thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh là 745,8 m², được giới hạn bởi các điểm 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 -10 - 3.
  • - Ông Nguyễn Khắc D, bà Nguyễn Thị S có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký điều chỉnh lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  • - Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu cả chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định và định giá . Xác nhận nguyên đơn đã nộp đủ trong quá trình giải quyết vụ án).
  • - Về án phí: Miễn án phí DSST cho bà Nguyễn Thị S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, quyền yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo nội dung Đơn khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị S phải trả cho nguyên đơn diện tích đất bà S lấn chiếm là khoảng 20m², quá trình giải quyết vụ án, qua đo đạc thẩm định, xác định diện tích đất xâm lấn là 43,2 m² nên nguyên đơn yêu cầu bà S phải trả lại diện tích đất là 43,2m². HĐXX xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” được qui định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc nguyên đơn yêu cầu bà S phải trả lại tích đất là 43,2m² vẫn nằm trong yêu cầu phạm vi khởi kiện.

- Về sự vắng mặt của một số đương sự: Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Văn H2 cũng đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, Tòa án đã giao giấy triệu tập và các văn bản trong quá trình tố tụng của Tòa án cho các đương sự, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Văn H1 đã nhận được nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà S, bà H, ông H1, ông H2 là phù hợp với qui định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung liên quan đến yêu cầu khởi kiện:

Tại đơn khởi kiện ông Nguyễn Khắc D yêu cầu bà Nguyễn Thị S phải trả cho ông D diện tích đất khoảng 20m² ở Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi có kết quả đo đạc thẩm định xác định được diện tích đất bà S sử dụng xâm lấn sang thửa đất số 313 của ông D là 43,2 m². Do vậy hiện nay ông D yêu cầu bà S phải trả cho ông D 43,2 m² đất.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Về nguồn gốc thửa đất 313 và thửa đất 312: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện thửa đất số 313 ở thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh chủ sử dụng là ông Nguyễn Khắc D và thửa đất số 312 ở cùng địa chỉ trên, chủ sử dụng là bà Nguyễn Thị S. Nguồn gốc hai thửa đất này là tài sản chung của vợ chồng bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn H3 tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 23, diện tích 1578 m². Tại bản án phúc thẩm số 18/2016/HNGĐ-PT ngày 21/6/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã phân chia ông Nguyễn Văn H3 và bà Nguyễn Thị S mỗi người được sử dụng ½ diện tích thửa đất số 17 là 789 m². Sau đó ông Nguyễn Văn H3 đã được cơ quan Thi hành án cưỡng chế giao đất và được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 172003 cấp ngày 19/10/2017 mang tên ông Nguyễn Văn H3 tại thửa đất số 313, tờ bản đồ số 23, diện tích 789 m² ở thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi được nhà nước công nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất, do không có nhu cầu sử dụng nên ngày 21/8/2020 ông H3 đã chuyển nhượng thửa đất số 313 cho ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983 ở thôn C, V, G, Bắc Ninh. Ngày 14/12/2022 ông Nguyễn Văn T1 chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn H3. Ngày 07/8/2023 ông H3 chuyển nhượng thửa đất số 313 cho ông Nguyễn Hữu T. Ngày 16/10/2023 ông T lại chuyển nhượng thửa đất cho ông Nguyễn Khắc D (nguyên đơn). Việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 313 giữa các chủ thể nêu trên đều được tuân thủ theo quy định của pháp luật, các bên tham gia giao dịch không tranh chấp, ông D đã được nhận bàn giao thửa đất trong hiện trạng thửa đất đã được xây tường bao từ phía bằng cay. Ngày 16/10/2023, ông D đã được Nhà nước công nhận Quyền sử dụng đất, ghi nhận tại trang 04 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 172003 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 19/10/2017 cho ông Nguyễn Văn H3.

Như vậy có đủ căn cứ để khẳng định rằng thửa đất số 313, tờ bản đồ số 23, diện tích 789 m² ở thôn H, xã N thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Khắc D được Nhà nước bảo hộ. Căn cứ vào trích lục bản đồ địa chính, sơ đồ thửa đất số 313 tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kết quả đo máy thẩm định cho thấy, diện tích thửa đất 313 của ông D bị hộ bà Nguyễn Thị S đang sử dụng chồng lấn 43,2 m² về phía cạnh tiếp giáp với thửa đất số 312 của bà Nguyễn Thị S. Hiện tại thửa đất số 313 của ông D chỉ còn diện diện tích 745,8 m² .

Căn cứ vào kết quả đo máy và thẩm định đối với thửa đất số 312 của bà Nguyễn Thị S thì thấy: Hiện trạng sử dụng đất của bà S tại thửa đất này là 870 m², trong đó sử dụng chồng lấn sang thửa đất số 313 của ông Nguyễn Khắc D là 43,2 m². Như vậy có đủ căn cứ để xác định quyền và lợi ích hợp pháp của ông D bị bà S xâm phạm, nay cần buộc bà S phải trả cho ông D diện tích đất 43,2 m². Tuy nhiên, phần diện tích đất chồng lấn này bà S cho con gái là bà H sử dụng, bà H đã xây nhà kiên cố, theo yêu cầu của nguyên đơn không cần thiết buộc bà S cùng các con phải tháo dỡ nhà kiên cố mà buộc bà S phải trả cho ông D giá trị 43,2 m² đất bằng tiền mặt. Theo biên bản định giá của Hội đồng định giá tài sản, đất có giá trị 6.000.000 đồng/1m², tổng giá trị bà S phải trả cho ông D là 259.200.000 đồng. Tại phiên tòa, ông D tự nguyện không yêu cầu bà S phải trả số tiền 259.200.000 đồng cho ông nữa. Xét đây là yêu cầu tự nguyện của nguyên đơn, không trái quy định của pháp luật nên được HĐXX ghi nhận.

[3]. Về chi phí đo đạc, thẩm định: Ông D tự nguyện chịu cả chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định và định giá là 20.000.000 đồng (Xác nhận ông D đã nộp đủ trong quá trình giải quyết vụ án).

[4]. Về án phí:Nguyễn Thị S, sinh năm 1963, là người cao tuổi, căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí DSST cho bà Nguyễn Thị S.

Hoàn trả ông Nguyễn Khắc D số tiền dự phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 166, 167, 170, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 160, 161, 163, 166 175, 176, 221 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Khắc D về việc yêu cầu bà S phải trả 43,2 m² đất.
  • - Buộc bà Nguyễn Thị S phải trả cho ông Nguyễn Khắc D giá trị diện tích đất xâm lấn của ông D là 259.200.000 đồng. (Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Khắc D tại phiên tòa, không yêu cầu bà Nguyễn Thị S phải trả cho ông D số tiền 259.200.000 đồng).
  • - Bà Nguyễn Thị S được sử dụng 43,2 m² đất của ông Nguyễn Khắc D tại thửa đất số 313, tờ bản đồ số 23, ở thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
  • - Diện tích đất còn lại tại thửa đất 313, tờ bản đồ số 23 ở thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Khắc D745,8 m², được giới hạn bởi các điểm 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 -10 – 3 (Có sơ đồ kèm theo bản án này).
  • - Ông Nguyễn Khắc D, bà Nguyễn Thị S có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký điều chỉnh lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  • - Về chi phí tố tụng: Ông D phải chịu 20.000.000 đồng phí đo đạc, xem xét thẩm định và định giá tài sản (Xác nhận ông D đã nộp đủ trong quá trình giải quyết vụ án).
  • - Về án phí: Miễn án phí DSST cho bà Nguyễn Thị S. Hoàn trả ông Nguyễn Khắc D số tiền 750.000 đồng dự phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001894 ngày 22/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Quế Võ;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Chi cục THAD thị xã Quế Võ
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Thảo

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh.

Nghị định này quy định việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 02 tháng 12 năm 1998.

Điều 2. Thẩm quyền cho thuê đất.

1. Cơ quan có thẩm quyền giao đất quy định tại khoản 3 Điều 23 và Điều 24 của Luật Đất đai là cơ quan có thẩm quyền cho thuê đất.

Trong trường hợp cho thuê đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, thì thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của bản Quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (gọi tắt là Nghị định số 85/1999/NĐ-CP của Chính phủ); trong trường hợp cho thuê đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp, thì được thực hiện theo quy định tại Điều 16 của Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp (gọi tắt là Nghị định số 163/1999/NĐ-CP của Chính phủ).

2. Trình tự cho thuê đất để thực hiện dự án như trình tự giao đất quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Nghị định này.

Điều 3. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất (gọi tắt là Nghị định số 17/1999/NĐ-CP của Chính phủ), thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nêu tại khoản này mà đất đó nằm trong quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nhưng chưa có quyết định thu hồi đất để thực hiện quy hoạch đó thì vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng phải chấp hành đúng các quy định về xây dựng. Khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện quy hoạch xây dựng thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải chấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được đền bù thiệt hại về đất, tài sản có trên đất theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có các giấy tờ nêu tại khoản 1 Điều này, được ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất đó không có tranh chấp thì được xem xét để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có giấy tờ nêu tại khoản này mà đất đó nằm trong quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng sau đây:

  • Tổ chức sử dụng đất;
  • Hộ gia đình, cá nhân sử dụng các loại đất tại nội thành phố, nội thị xã và đất ở, đất chuyên dùng tại thị trấn;
  • Nhà thờ, nhà chùa, thánh thất tôn giáo;
  • Cộng đồng dân cư sử dụng đất có công trình như: đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ tại đô thị.

4. ủy ban nhân dân cấp huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng sau đây:

  • Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại nông thôn và tại thị trấn;
  • Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở, đất chuyên dùng tại nông thôn;
  • Cộng đồng dân cư sử dụng đất có công trình như: đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ tại nông thôn.

Điều 4. Đất sử dụng vào mục đích công cộng.

1. Đất sử dụng vào mục đích công cộng quy định tại điểm 5 khoản 5 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai bao gồm đất để xây dựng đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, hệ thống cấp thoát nước, sông, hồ, đê, đập, trường học, bệnh viện, chợ, công viên, vườn hoa, khu vui chơi cho trẻ em, quảng trường, sân vận động, sân bay, bến cảng.

2. Đất sử dụng để xây dựng các công trình công cộng khác bao gồm đất xây dựng nhà máy điện, trạm biến thế điện, hồ thuỷ điện, đường dây thông tin, đường dây tải điện, đường ống dẫn xăng dầu, đường ống dẫn khí, đài khí tượng thuỷ văn, các trạm quan trắc phục vụ nghiên cứu và dịch vụ công cộng, công trình thuỷ lợi, bến tàu, bến xe, bến phà, sân ga, vườn quốc gia, khu an dưỡng, khu nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, cơ sở huấn luyện, tập luyện thể dục, thể thao, cơ sở phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật, trung tâm dạy nghề, công trình văn hoá, tượng đài, bia tưởng niệm, câu lạc bộ, nhà hát, bảo tàng, triển lãm, rạp chiếu phim, rạp xiếc, trung tâm cai nghiện ma tuý, trại giáo dưỡng, trại phục hồi nhân phẩm, nghĩa trang, nghĩa địa, khu xử lý chất thải, bãi rác.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 32/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Khắc D khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger