|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-7-2024 “ V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Mỹ Dung
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Minh Châu
- Ông Phạm Thiện Bửu
- - Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sóc - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 30/5/2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số: 73/2024/QĐST- HNGĐ ngày 21/6/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy T, sinh năm 1987;
- Địa chỉ cư trú: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- - Bị đơn: Anh Trương Vĩnh P, sinh năm 1982
- Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- (Chị T có đơn xin vắng mặt, anh P vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 27/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy T trình bày: Vào năm 2004 chị và anh Trương Vĩnh P được sự thống nhất của cha mẹ tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau, đến ngày 21/6/2011 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã (nay là thành phố) Hồng Ngự. Trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hòa nên từ năm 2020 cho đến nay chị và anh Trương Vĩnh P không còn chung sống với nhau nữa. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- - Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Trương Vĩnh P;
- - Về con chung: Có 02 con chung tên Trương Thị Mỹ N, sinh ngày 14/6/2005 hiện con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết và Trương Thị Như Ý, sinh ngày 04/8/2016 do chị đang nuôi dưỡng, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Trương Vĩnh P cấp dưỡng nuôi con;
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Trương Vĩnh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và ký nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh Trương Vĩnh P không đến tham gia các phiên hòa giải cũng không gửi Văn bản ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy T có đơn xin vắng mặt, đối với bị đơn anh Trương Vĩnh P đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị: Căn cứ Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 91, Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy T với ông Trương Vĩnh P.
- - Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thúy T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trương Thị Như Ý, sinh ngày 04/8/2016, ông Trương Vĩnh P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.
- - Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ kiện về ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy T có đơn xin vắng mặt do bận làm ở Công ty. Bị đơn anh Trương Vĩnh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng không đến tham gia phiên tòa nên tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy T và anh Trương Vĩnh P cưới nhau vào năm 2004 đến ngày 21/6/2011 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã, thị xã (nay là thành phố) Hồng Ngự theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa chị Thúy T và anh Vĩnh P là hôn nhân hợp pháp. Chị Thúy T trình bày trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hòa nên từ năm 2020 cho đến nay chị và anh Vĩnh P không còn chung sống với nhau nữa. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Trương Vĩnh P.
Đối với bị đơn anh Trương Vĩnh P có nhận đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo bổ sung tài liệu chứng cứ... nhưng anh Vĩnh P không đến tham gia các phiên họp và phiên tòa hôm nay, anh Vĩnh P cũng không gửi văn bản ý kiến về yêu cầu xin ly hôn và yêu cầu được nuôi con của chị Thúy T. Do đó xét thấy anh Trương Vĩnh P không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Thúy T. Từ những cơ sở trên xét thấy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thúy T và anh Trương Vĩnh P có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Thúy T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trương Vĩnh P là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trương Thị Mỹ N, sinh ngày 14/6/2005 hiện con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết và Trương Thị Như Ý, sinh ngày 04/8/2016 do chị Nguyễn Thị Thúy T đang nuôi dưỡng, chị Thúy T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Trương Vĩnh P cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy hiện nay con chung tên Trương Thị Như Ý đang sống với chị Thúy T ổn định, phù hợp với nguyện vọng của cháu Như Ý, do đó việc chị Thúy T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp và có cơ sở. Đối với việc chị Thúy T không yêu cầu anh Vĩnh P cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về tài sản chung: Chị Thúy T trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Vậy, chị Nguyễn Thị Thúy T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng; anh Trương Vĩnh P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy T. Chị Nguyễn Thị Thúy T được ly hôn với anh Trương Vĩnh P.
- Về con chung: Có 02 con chung là Trương Thị Mỹ N, sinh ngày 14/6/2005 và Trương Thị Như Ý, sinh ngày 04/8/2016; con chung tên Trương Thị Mỹ N đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy T, chị Nguyễn Thị Thúy T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trương Thị Như Ý.
- - Anh Trương Phước V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Thúy T không yêu cầu.
- - Chị Nguyễn Thị Thúy T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Trương Vĩnh P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy T chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm; nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0005057 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự; chị Nguyễn Thị Thúy T đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Trương Vĩnh P không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi bổ sung năm 2014)”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Thị Mỹ Dung |
5
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị T với anh P
