|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Minh Hằng
Bà Phạm Thị Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 23/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H; nơi ĐKHKTT: Số E L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số B ngõ A C, tổ A, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Đức D; nơi cư trú: Số B ngõ A C, tổ A, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 4 năm 2024, bản tự khai nguyên đơn là chị Lê Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hải Phòng vào ngày 03/4/2013. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh D thường xuyên chơi bời, rượu chè, không quan tâm đến vợ con. Khi uống rượu say anh chửi vợ, chửi con. Vì vậy vợ chồng thường xuyên cãi vã ảnh hưởng đến không khí gia đình, tâm lý của các con. Gia đình, hàng xóm nhiều lần can ngăn, khuyên giải nhưng vẫn không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân khoảng 5 tháng nay, mặc dù sống chung nhà nhưng không ai còn quan tâm đến ai. Nay chị xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Đức D.
Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là Bùi Tường V, sinh ngày 21/3/2013 và Bùi Trần Kỳ D1, sinh ngày 08/12/2016. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao 02 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Bùi Đức D: Anh Dũng đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến gửi cho Tòa án cũng không đến Tòa án theo giấy triệu tập để cung cấp lời khai, vì vậy không lấy được lời khai của anh Bùi Đức D.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn cho quan điểm sống bất đồng, 5 tháng trở lại đây anh chị sống ly thân với nhau, không ai còn quan tâm đến ai. Như vậy, xác định mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh Bùi Đức D.
Về con chung: Chị H và anh D có 02 con chung là Bùi Tường V, sinh ngày 21/3/2013 và Bùi Trần Kỳ D1, sinh ngày 08/12/2016. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao 02 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về điều kiện nuôi dưỡng con chung: Chị H có công việc và thu nhập. Chị có đủ thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Anh D2 không gửi cho Tòa án ý kiến của mình về vấn đề con chung. Hai cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu V và cháu D1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Bùi Đức D trú tại quận H. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt không có ly do. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Bùi Đức D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, anh chị không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc nhau. Anh chị đã sống ly hôn 05 tháng nay. Tuy sống cùng nhà nhưng không ai còn quan tâm đến ai, chị H không còn tình cảm với anh D. Về việc chị H đề nghị ly hôn anh D không đến Tòa án để hòa giải, không có giải pháp nào để vợ chồng hàn gắn tình cảm, giải quyết mâu thuẫn. Như vậy, xác định mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, vợ chồng không chung sống cùng nhau, anh chị không còn yêu thương, tôn trọng, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình, việc chị H xin ly hôn anh D là có căn cứ. Vì vậy, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
[4] Về con chung: Chị H và anh D có 02 con chung là Bùi Tường V, sinh ngày 21/3/2013 và Bùi Trần Kỳ D1, sinh ngày 08/12/2016. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao 02 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về điều kiện nuôi dưỡng con chung: Chị H kinh doanh tự do, thu nhập hàng tháng khoảng 20.000.000 đồng. Chị có đủ thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Anh D2 không gửi cho Tòa án ý kiến của mình về vấn đề con chung. Hai cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu V và cháu D1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Lê Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Lê Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị H và anh Bùi Đức D được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235 và điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Bùi Đức D.
-
Về con chung: Giao cháu Bùi Tường V, sinh ngày 21/3/2013 và Bùi Trần Kỳ D1, sinh ngày 08/12/2016 cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Lê Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005602 ngày 17/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Lê Thị H và anh Bùi Đức D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND TP. Hải Phòng;
- - VKSND quận Hải An;
- - Chi cục THA DS quận Hải An;
- - UBND phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng (GCNKH số 20 ngày 03/4/2013);
- - Các đương sự;
- - Lưu: Hồ sơ, HCTP.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
|
Phạm Thị Yến |
Nguyễn Minh Hằng |
Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
