Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHĨA ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:32/2024/HSST

Ngày: 04/7/2024

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Quang Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Quang Hòa bà Nguyễn Thị Thanh

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Võ Thùy Trang - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Dương Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2024 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25 ngày 13 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 08 ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị L - Tên gọi khác: không; giới tính: nữ; Sinh ngày 14 tháng 02 năm 1971, tại N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Con ông: Nguyễn Trung T, đã chết; Con bà: Cao Thị D, đã chết; Chồng: Chu Văn T1, sinh năm 1969; Con có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án số 37/2021/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2021 Nguyễn Thị L bị TAND huyện Nghĩa Đàn xử phạt 22.000.000đ về tội “Đánh bạc”. Bị tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/12/2023 được tại ngoại. Có mặt.
  2. Trần Thị G - Tên gọi khác: Không; giới tính: nữ; Sinh ngày 01 tháng 3 năm 1980, tại N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Con ông: Trần Ngọc A, đã chết; Con bà: Phạm Thị X, đã chết; Chồng: Nguyễn Văn K, đã chết; Con: có 02, đều sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, từ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/12/2023 được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  3. Phan Thị T2 - Tên gọi khác: Không; giới tính: nữ; Sinh ngày 06 tháng 02 năm 1980, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Nơi cư trú: Làng Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Con ông: Phan Đình D1, đã chết; Con bà: Phan Thị T3, sinh năm 1952; Chồng: Nguyễn Duy N, sinh năm 1975 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án số 51 ngày 22/7/2009, bị TAND huyện Nghĩa Đàn xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Đánh bạc” và “tổ chức đánh bạc” Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/12/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
  4. Trương Thị H - Tên gọi khác: Không; giới tính: nữ; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1974, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Làng Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Con ông: Trương Văn H1, đã chết; Con bà: Vũ Thị L1, sinh năm 1934; Chồng: Trần Quốc T4, sinh năm 1968; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền sự: Không; Tiền án: Tại bản án số 112a ngày 10/8/2020, bị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 27 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, bị truy thu 68.415.000đ, mới chấp hành xong số tiền truy thu, chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 26/12/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
  5. Nguyễn Thị B - Tên gọi khác: Không; giới tính: nữ; Sinh ngày 10 tháng 8 năm 1979, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Con ông: Nguyễn Duy C, đã chết; Con bà: Đặng Thị S, đã chết; Chồng: Huỳnh Ngọc H2, sinh năm 1972; Con có 01 con, sinh năm 20037; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 26/12/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
  6. Trương Thị T5 - Tên gọi khác: Không; giới tính: nữ; Sinh ngày 05 tháng 10 năm 1959, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 3/10; Nghề nghiệp: lao động tự do; Nơi cư trú: Làng Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Con ông: Trương Văn X1, đã chết; Con bà: Lê Thị D2, đã chết; Chồng: Trương Văn H3, sinh năm 1958; Con có 07 con, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 26/12/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
  7. Nguyễn Thị T6 - Tên gọi khác: không; giới tính: nữ; Sinh ngày 09 tháng 4 năm 1973, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Làng Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Con ông: Nguyễn N1, đã chết; Con bà: Tô Thị H4, sinh năm 1942; chồng: Nguyễn Văn L2, sinh năm 1971 và có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến ngày 27/12/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
  8. Trần Thị Cẩm N2 - Tên gọi khác: Không; giới tính: nữ; Sinh ngày 26 tháng 02 năm 1997, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Đ, TX T, tỉnh Nghệ An; Con ông: Trần Quốc T4, sinh năm 1967; Con bà: Trương Thị H, sinh năm 1974; Chồng: Phạm Tiến T7, sinh năm 1996 và có 1 con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 26/12/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
  9. Bùi Văn Đ - Tên gọi khác: Không; giới tính: nam; Sinh ngày 12 tháng 6 năm 1965, tại Thành phố V, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Làng T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Con ông: Bùi Văn E (chết); Con bà: Nguyễn Thị T8, đã chết; vợ: Phan Thị L3, sinh năm 1966; Con có 02 con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 26/02/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
  10. Nguyễn Quang D3 - Tên gọi khác: Không; giới tính: nam; Sinh ngày 20 tháng 4 năm 1971, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Con ông: Nguyễn Quang L4, đã chết; Con bà: Nguyễn Thị S1, đã chết; Vợ: Bùi Thị N3, sinh năm 1974; Con có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Phạm Thị P, sinh năm 1967
    Trú tại: Xóm Đông Nam, xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An
  2. Vương Quốc H5, sinh năm 1977
    Trú tại: Khối 10, Phường Quán Bàu, TP Vinh, Nghệ An
    Tạm trú: Làng Trung Chính, xã Nghĩa Lâm, Nghĩa Đàn, Nghệ An
  3. Trần Thị T9, sinh năm 1961
    Trú tại: Làng Yên Phú, xã Nghĩa Lâm, Nghĩa Đàn, Nghệ An
  4. Phạm Văn T10, sinh năm 1972
    Trú tại: Làng Yên Phú, xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An
  5. Phạm Thị Lan A1, sinh năm 1987
    Trú tại: Xóm M, xã N, N, Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Các bị cáo Nguyễn Thị L, Trần Thị G, Phạm Thị T11, Trương Thị H, Nguyễn Thị B, Trương Thị T5, Nguyễn Thị T6, Trần Thị Cẩm N2, Bùi Văn Đ, Nguyễn Quang D3. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay, vụ án có nội dung như sau:

Do biết việc nhận bảng lô đề từ những người ghi số lô, số đề có thể sẽ thu lợi nhuận lớn nên từ ngày 15/12/2023 đến ngày 19/12/2023, một số đối tượng trên địa bàn xã N, N của huyện N đã nhận ghi số lô, số đề sau đó chuyển cho đại lý. Các đối tượng tham gia ghi số lô, số đề đều theo quy ước chung là lấy kết quả xổ số miền B làm căn cứ xác định việc đánh trúng số lô, số đề, số xiên. Số đề được xác định là số cuối của giải đặc biệt, số lô được xác định là số cuối của 27 giải, lấy số lô để xác định kết quả của số xiên hai hoặc xiên ba, lấy kết quả ba số cuối của giải đặc biệt để xác định kết quả ba càng. Đối với số đề đánh trúng thì tỷ lệ đánh 1 ăn 70, số lô thì cứ 01 điểm lô đầu mối cấp dưới mua lại của đầu mối cấp trên giá từ 22.000đ đến 22.500đ/1 điểm lô và bán cho khách với giá 23.000₫/ 1 điểm lô. Nếu đánh trúng thì 01 điểm lô sẽ ăn số tiền 80.000đ, đối với số xiên đôi thì tỷ lệ sẽ là 1 ăn 10, còn số xiên 3 sẽ là đánh 1 ăn 40, số ba càng nếu trúng thì đánh 1 ăn 350 lần. Cụ thể hành vi của các đối tượng như sau:

Nhóm ghi số lô, số đề, số xiên rồi chuyển bảng cho Phan Thị T2 gồm có Trương Thị H, Nguyễn Thị T6, Trương Thị T5. Cụ thể:

Đối với Nguyễn Thị T6: Nguyễn Thị T6 biết Phan Thị T2 nhận bảng số lô, số đề nên có gặp, đặt vấn đề với T2 cho Nguyễn Thị T6 chuyển bảng cho T2 thì T2 đồng ý. Chiều ngày 19/12/2023, Nguyễn Thị T6 ra chợ N4 mở bảng nhận ghi số lô, số đề cho khách đi chợ bằng giấy trắng làm cáp đề và ký xác nhận chữ ký của mình trong cáp. Sau khi nhận số lô, số đề từ khách đánh thì T6 tổng hợp thành bảng lô, đề rồi chụp hình ảnh gửi từ tài khoản zalo “Tuyên Nguyễn” qua zalo cho Phan Thị T2 có tài khoản là “Na”. Vào ngày 19/12/2023, tổng số tiền số đề, số ba càng mà T6 nhận của khách rồi chuyển cho T2 là 1.550.000đ, tổng số điểm lô Tuyên nhận của khách là 240 điểm, mỗi điểm lô, Trà nhận của T6 là 22.500đ nên tổng số tiền lô T6 chuyển cho T2 là 5.400.000đ, Nguyễn Thị T6 ghi cho khách là 23.000đ/1 điểm lô. Sau khi có kết quả xổ số thì bảng lô của T6 chuyển cho T2 trúng 60 điểm lô x 80.000đ/điểm = 4.800.000đ. Nguyễn Thị T6 được Trà cho hưởng 20% bằng 310.000đ. Như vậy tổng số tiền đánh số lô, số đề của Nguyễn Thị T6 đánh với khách ngày 19/12/2023 được xác định là 1.550.000đ + 240 điểm x 23.000đ+ 4.800.000₫ = 11.870.000đ. Tổng số tiền đánh số lô, số đề của Phan Thị T2 đối với Nguyễn Thị T6 vào ngày 19/12/2023 được xác định là 1.550.000đ + 240 điểm x 22.500đ + 4.800.000đ = 11.750.000đ. Sau khi cân đối giữa số tiền đánh và số tiền trúng thưởng T2 phải trả cho T6, xác định Nguyễn Thị T6 còn phải trả cho Nguyễn Thị T12 1.550.000đ + 5.400.000₫ - 4.800.000₫ – 310.000₫ = 1.840.000₫.

Đối với Trương Thị T5: Phan Thị T2 nhận bảng lô, đề của Trương Thị T5 chuyển qua cho T2. Theo thỏa thuận thì mỗi điểm lô T2 sẽ nhận của Trương Thị T5 với giá 22.500đ và T5 nhận của khách với giá 23.000đ. Riêng tiền số đề và xiên thì Phan Thị T2 cho T5 hưởng 20% tiền hoa hồng. Cụ thể ngày 19/12/2023 sau khi nhận số lô, số đề từ khách đánh thì T5 đã tổng hợp thành bảng rồi sau đó chuyển qua zalo cho T2, tổng số tiền đề, xiên, ba càng thì T5 chuyển cho T2 là 2.925.000đ, tổng số tiền đề T5 chuyển cho T2 là 190 điểm x 22.500đ/điểm = 4.275.000đ. Sau khi có kết quả xổ số thì bảng lô đề mà T5 chuyển cho T2 có trúng 20 điểm lô x 80.000đ= 1.600.000đ, trúng một con đề 77 đánh 80.000đ = 5.600.000đ. Trương Thị T5 được hưởng 20% tiền số đề, xiên, ba càng với số tiền 580.000đ. Như vậy, tổng số tiền đánh số lô, số đề của Trương Thị T5 với khách ghi lô, đề ngày 19/12/2023 được xác định là 2.925.000đ + 190 điểm x 23.000₫ + 1.600.000₫ + 5.600.000đ = 14.495.000đ (mười bốn triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh số lô, số đề của T2 đối với Trương Thị T5 ngày 19/12/2023 được xác định là 2.925.000đ + 190 điểm x 22.500đ + 1.600.000đ + 5.600.000đ = 14.400.000đ (mười bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Sau khi cân đối giữa số tiền đánh bạc Tình với T2 và số tiền trúng thưởng T2 phải trả cho T5, xác định số tiền đánh bạc và số tiền trúng thưởng bằng nhau nên không ai phải thanh toán cho ai.

Đối với Trương Thị H: Trương Thị H nhận ghi số lô, số đề của khách rồi chuyển qua zalo cho Phan Thị T2. Trà cũng cho H hưởng 20% từ số tiền ghi đề, số xiên và ba càng. Mỗi điểm số lô Hồng ghi của khách là 23.000đ, khi chuyển lại cho T2 thì chuyển với giá 22.500đ/điểm lô. Ngày 19/12/2023, Trương Văn T13 ghi với Trương Thị H 3.45.000đ tiền lô + 200.000đ xiên ba = 3.650.000đ. Trần Thị Cẩm N2 chuyển cho Trương Thị H 340.000₫ tiền đề + 15.870.000đ tiền lô + 170.000đ tiền xiên đôi = 16.380.000đ, sau khi có kết quả thì bảng đề N2 chuyển cho H trúng con 77 với số tiền đánh 20.000đ = 1.400.000đ. Vương Quốc H5 ghi số lô, số đề với H như sau: 660.000đ tiền đề + 1.150.000đ tiền lô + 500.000₫ xiên đôi + 200.000đ xiên ba = 2.510.000đ. Vương Quốc H5 không trúng số lô, số đề hay số xiên nào.

Sau khi tổng hợp lại các số lô, số đề ngày 19/12/2023, H gửi cho T2, cụ thể H chuyển cho T2 tiền đề, xiên 660.000đ + 700.000đ + 510.000đ + 200.000₫ = 2.070.000đ, tổng số tiền số lô H chuyển cho T2 là (50 + 690 + 150) điểm x 22.500đ = 20.025.000đ. Tổng số tiền bảng số lô, số đề ngày 19/12/2023 H chuyển cho T2 là 20.025.000đ + 2.070.000₫ = 22.095.000đ. Sau khi có kết quả xổ số miền bắc thì bảng do H chuyển trúng số đề 77 x 20.000đ = 1.400.000đ. Phan Thị T2 trả cho H 20% hoa hồng tiền số đề, số xiên = 414.000₫ Như vậy, tổng số tiền đánh số lô, số đề của Trương Thị H với Trương Văn T13, Trần Thị Cẩm N2, V Hạnh ngày 19/12/2023 được xác định là: 3.650.000₫ + 17.780.000₫ + 2.510.000đ = 23.940.000đ. Tổng số tiền đánh số lô, số đề của Phan Thị T2 đối với Trương Thị H ngày 19/12/2023 được xác định là 22.095.000đ + 1.400.000đ = 23.495.000đ. Sau khi có kết quả xổ số, cân đối giữa số tiền đánh bạc Trương Thị H và Phan Thị T2 và số tiền trúng thưởng T2 phải trả cho H, xác định Trương Thị H còn phải thanh toán cho T2 số tiền 22.095.000₫ – 1.400.000₫ – 410.000₫ = 20.281.000đ. Như vậy vào ngày 19/12/2023, tổng số tiền Phan Thị T2 nhận chuyển bảng và tiền trúng số lô, số đề của tất cả các đối tượng gồm Nguyễn Thị T6, Trương Thị H, Nguyễn Thị T14 là 11.750.000đ + 14.400.000đ + 23.495.000đ = 49.645.000₫.

Nhóm nhận ghi số lô, số đề và chuyển bảng cho Nguyễn Thị B gồm:

Đối với Bùi Văn Đ: Nguyễn Quang D3 điện thoại cho Đ nhờ Đ ghi cho 02 số lô 68 và 86 mỗi con 200 điểm, mỗi điểm với giá 23.000đ, sau đó Đ đã chuyển 400 điểm lô này đến cho Nguyễn Thị B thì B nhận của Đ với giá 22.500đ/điểm lô, Đ được hưởng lợi 200.000đ. Sau khi có kết quả xổ số 02 số lô 68 và 86 Dung nhờ Đ đánh nhưng không trúng, sáng ngày 19/12/2023, Đ gặp D3 và lấy số tiền 9.200.000đ và đến thanh toán cho B 9.000.000đ. Như vậy tổng số tiền đánh số lô của Nguyễn Quang D3 với Bùi Văn Đ ngày 18/12/2023 là 9.200.000đ. Tổng số tiền đánh số lô, số đề của Nguyễn Thị B đối với Bùi Văn Đ ngày 18/12/2023 là 9.000.000₫.

Đối với Trần Thị T9: Ngày 18/12/2023 Trần Thị T9 nhắn tin đến Nguyễn Thị B đánh 125 điểm lô, do B và T9 thân thiết với nhau nên B chỉ lấy của T9 với giá 22.000đ/ điểm lô, tổng tiền lô Tiếp đánh là 2.750.000đ. Ngoài ra T9 còn đánh các con đề với B tổng cộng 720.000₫. Như vậy tổng tiền lô, đề T9 đánh với Bắc ngày 18/12/2023 là 2.750.000đ + 720.000đ = 3.470.000đ. Sau khi có kết quả xổ số miền bắc thì T9 trúng 10 điểm lô tương tương 800.000đ. Như vậy tổng số tiền T9 đánh với Bắc ngày 18/12/2023 là 3.470.000đ + 800.000₫ = 4.270.000đ.

Đối với Phạm Thị P: Ngày 18/12/2023 Phạm Thị P đánh con đề 32 với số tiền 20.000đ, sau khi có kết quả xổ số P trúng con đề 32 nên số tiền Phương trúng là 1.400.000đ. Như vậy tổng số tiền Phạm Thị P đánh bạc với Nguyễn Thị B ngày 18/12/2023 là 1.400.000đ + 20.000₫ 1.420.000₫.

Ngoài hành vi nhận số lô, số đề từ các đối tượng trên thì B còn nhận số lô, số đề của khách lạ được lưu trong điện thoại của B. Cụ thể B nhận ghi 665 điểm lô và 5.310.000đ tiền số lô, số xiên. Tổng số tiền Nguyễn Thị B nhận từ khách đánh số lô, số đề trong ngày 18/12/2023 là 6.050.000₫+ 400 điểm lô x 22.500đ + 790 điểm lô x 22.000₫ = 32.430.000đ. Sau khi có kết quả xổ số khách đánh trúng bảng của B số tiền 11.200.000đ. Như vậy tổng số tiền đánh số lô, số đề của Nguyễn Thị B ngày 18/12/2023 được xác định là 32.430.000đ + 11.200.000đ= 43.630.000đ.

Nhóm Nguyễn Thị L đánh số lô, số đề với Trần Thị G: Ngày 10/12/2023 Trần Thị G đến gặp Nguyễn Thị L nhờ L nhận ghi số lô, số đề thì L đồng ý. Ngày 15/12/2023 G gọi điện đến nhờ L đánh 1.950 điểm lô x 23.000đ/điểm = 44.850.000đ và 2.200.000đ tiền đề và xiên. Theo thỏa thuận thì L cho G hưởng 10% tiền số đề, số xiên nên G được hưởng hoa hồng 200.000đ. Tổng số tiền bảng lô, đề, xiên Nguyễn Thị L nhận của Trần Thị G ngày 15/12/2023 được xác định là: 44.850.000đ + 2.200.000đ = 47.050.000đ. Sau khi có kết quả xổ số Trần Thị G đánh trúng 02 nháy số lô 73 đánh 50 điểm, tương ứng 50 điểm x 2 x 80.000đ = 8.000.000đ. Như vậy xác định tiền đánh số lô, số đề của Nguyễn Thị L và Trần Thị G ngày 15/12/2023 được xác định là 47.050.000đ + 8.000.000đ = 55.050.000₫.

Về vật chứng vụ án:

  • + 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y51 màu xanh đen, kiểu máy V2035 thu giữ của Nguyễn Thị L
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Opo màu đen, kiểu máy CHP1931 thu giữ của Bùi Văn Đ.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, model TA1174 thu giữ của Nguyễn Thị L. Điện thoại đã qua sử dụng.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A 12, màu xanh, thu giữ của Trần Thị G. Điện thoại đã qua sử dụng.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu xanh nhạt, có kiểu máy CPH2325 thu giữ của Nguyễn Thị T6. Điện thoại đã qua sử dụng.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, kiểu máy CPH 2083, thu giữ của Trương Thị T5. Điện thoại đã qua sử dụng.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 14Promax màu đen thu giữ của Trần Thị Cẩm N2. Điện thoại đã qua sử dụng.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, model TA 1010 thu giữ của Trương Thị H. Điện thoại đã qua sử dụng.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu samsung Galaxy J8 màu đen thu giữ của Nguyễn Thị B; + 01 điện thoại nhãn hiệu samsung Galaxy A12 thu giữ của Nguyễn Thị B. Các điện thoại đã qua sử dụng.
  • + 01 (Một) điện thoại Samsung Galaxay J4, màu xanh, thu giữ của Nguyễn Quang D3. Điện thoại đã qua sử dụng.

Thu giữ 01 mảnh giấy màu trắng có sọc kẻ ngang thu giữ của Trần Thị G.

Thu giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu gold tại Trương Thị H. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Trần Quốc T4, chồng bị cáo H. Việc H sử dụng điện thoại của anh T4 vào việc đánh lô, đề anh T4 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại này cho anh T4.

Cáo trạng số 29/VKS – HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 của VKSND huyện Nghĩa Đàn đã truy tố các các bị cáo Nguyễn Thị L, Trần Thị G về tội Đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 321 BLHS; truy tố các bị cáo Phan Thị T2, Trương Thị H, Nguyễn Thị B, Trương Thị T5, Nguyễn Thị T6, Trần Thị Cẩm N2, Bùi Văn Đ, Nguyễn Quang D3 về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 điều 321 BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt đối với các bị cáo như sau:

  • Áp dụng điểm b khoản 2, 3 điều 321, điểm s khoản 1 điều 51, điều 58, điều 65 BLHS, xử phạt Nguyễn Thị L, Trần Thị G mỗi bị cáo 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, phạt tiền bổ sung mỗi bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng.
  • Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1, 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52, điều 38, điều 58 BLHS xử phạt Trương Thị H từ 06 đến 9 tháng tù; miễn phạt bổ sung bị cáo.
  • Áp dụng khoản 1,3 điều 321, điểm s, x khoản 1, 2 điều 51; điều 58, điều 65 BLHS xử phạt Phan Thị T2 từ 30 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, phạt bổ sung 10 đến 15 triệu đồng.
  • Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s, i khoản 1, 2 điều 51, điều 58, điều 65 BLHS xử phạt Nguyễn Thị B từ 27 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng, miễn phạt bổ sung bị cáo. Miễn phạt bổ sung bị cáo.
  • Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s, i khoản 1, 2 điều 51, điều 58, điều 36 BLHS xử phạt Trương Thị T5 từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập bị cáo từ 300.000đ đến 500.000đ/tháng;
  • Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s, i khoản 1, 2 điều 51, điều 58, điều 36 BLHS xử phạt Nguyễn Thị T6 từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập bị cáo từ 300.000đ đến 500.000đ/tháng.
  • Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s, i khoản 1, 2 điều 51, điều 58, điều 36 BLHS xử phạt Trần Thị Cẩm N2 từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập từ 300.000₫ đến 500.000đ/tháng.
  • Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s, i khoản 1, 2 điều 51, điều 58, điều 36 BLHS xử phạt Bùi Văn Đ, Nguyễn Quang D3 từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập.

Tịch thu để bán hóa giá sung quỹ Nhà nước các điện thoại là các công cụ các bị cáo dùng để liên lạc ghi số lô, số đề.

Truy thu số tiền các bị cáo và những người có quyền lợi liên quan như sau: Nguyễn Thị T6 6.920.000đ; Trương Thị T5 7.200.000đ; Phan Thị T2 13.400.000đ; Nguyễn Thị B 41.280.000đ; Trương Thị H 20.030.000đ; Nguyễn Thị L 8.000.000đ; Trần Thị G 47.050.000đ; Nguyễn Quang D3 200.000đ; Trần Thị T9 800.000đ; Phạm Thị P 1.400.000đ; Nguyễn Thị Lan A2 624.000đ; V Hạnh 2.510.000đ.

Lời nói sau cùng, tất cả các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh của các bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra lại tại phiên tòa. Từ đó xác định được: việc nhận bảng lô, đề từ Nguyễn Thị T6, Trương Thị T5, Trương Thị H chuyển cho T2 rồi cho hưởng số tiền chênh lệch và tiền hoa hồng. Nguyễn Thị B nhận bảng lô, đề của Bùi Văn Đ, B trực tiếp tham gia đánh đề với Nguyễn Thị T15, Phạm Thị P. Nguyễn Thị L trực tiếp đánh lô, đề với Trần Thị G. Trước khi tham gia ghi, nhận bảng lô, đề thì các bị cáo đã thỏa thuận với nhau về cách đánh, tỷ lệ thắng thua và tiền chênh lệch hoa hồng. Số tiền đánh cụ thể của từng bị cáo tham gia đánh bạc như sau:

  • Nguyễn Thị T6 đánh ngày 19/12/2023 là 11.870.000₫
  • Trương Thị T5 đánh ngày 19/12/2023 là 14.495.000₫
  • Trần Thị Cẩm N2 chuyển ngày 19/12/2023 là 17.780.000₫
  • Trương Thị H đánh với các đối tượng ngày 19/12/2023 Trương Văn T13, Trần Thị Cẩm N2, V Hạnh ngày 19/12/2023 được xác định là 3.650.000đ + 17.780.000đ + 2.510.000₫ = 23.495.000₫.

Tổng số tiền Phan Thị T2 nhận chuyển bảng và tiền trúng số lô, số đề của tất cả đối tượng gồm Nguyễn Thị T6, Trương Thị T5, Trương Thị H ngày 19/12/2023 là 11.750.000đ + 14.440.000đ + 23.495.000₫ = 49.645.000₫.

Tổng số tiền đánh số lô của Nguyễn Quang D3 với Bùi Văn Đ ngày 18/12/2023 là 9.200.000₫.

Tổng số tiền đánh số lô, số đề của Nguyễn Thị B đối với Bùi Văn Đ ngày 18/12/2023 là 9.000.000₫.

Tổng số tiền đánh số lô, số đề của Nguyễn Thị B ngày 18/12/2023 với Bùi Văn Đ, Trần Thị T9, Phạm Thị P và đánh với một số khách vãng lai được xác định là 43.630.000đ.

Tổng số tiền đánh số lô, số đề của Nguyễn Thị L và Trần Thị G ngày 15/12/2023 được xác định là 47.050.000₫ + 8.000.000₫ = 55.050.000đ.

Xét vị trí vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy rằng: Trong vụ án này bị cáo Phan Thị T2 là người nhận bảng lô, đề từ Nguyễn Thị T6, Trương Thị T5, Trương Thị H. Nguyễn Thị B là người nhận bảng lô, đề từ Bùi Văn Đ và trực tiếp ghi lô, đề với Nguyễn Thị T15, Phạm Thị P. Nguyễn Thị L là người trực tiếp đánh bạc với Trần Thị G. Trương Thị H là người đang có tiền án, chưa được xóa án tích nay lại tái phạm. Nguyễn Thị L, Trần Thị G là những người đánh nhiều nhất. Trong vụ án này Nguyễn Thị Lan A2, Vương Quốc H5, Phạm Thị P, Trần Thị T9 dùng số tiền đánh bạc chưa đến mức bị truy cứu trách hiệm hình sự nên đã bị xử phạt vi phạm hành chính.

Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trương Thị H thuộc trường hợp tái phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Quang D3, Bùi Văn Đ, Nguyễn Thị T6, Trương Thị T5, Trần Thị Cẩm N2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo Phan Thị T2, Trương Thị H, Trần Thị Cẩm N2, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị T6, Trương Thị T5, Bùi Văn Đ, Nguyễn Quang D3, Nguyễn Thị L, Trần Thị G sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Bị cáo Bùi Văn Đ, Nguyễn Thị T6, Trương Thị H, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị L, Trần Thị G, Trương Thị T5 có cha mẹ được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương kháng chiến. Phan Thị T2 là con của liệt sỹ Phan Đình D1. Bị cáo Nguyễn Quang D3 có công trong xây dựng nông thôn mới.

Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh của bị cáo Nguyễn Thị B bị bệnh về mắt, khó nhìn thấy, bị cáo Bùi Văn Đ bị xơ gan, tiểu đường, bị cáo Nguyễn Thị T6, Trương Thị T5, Nguyễn Quang D3 có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, nên miễn phạt bổ sung hoặc miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo này.

Về vật chứng: + 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y51 màu xanh đen, kiểu máy V2035 thu giữ của Nguyễn Thị L; + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, model TA1174 thu giữ của Nguyễn Thị L. Điện thoại đã qua sử dụng.

+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Opo màu đen, kiểu máy CHP1931 thu giữ của Bùi Văn Đ.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A 12, màu xanh, thu giữ của Trần Thị G. Điện thoại đã qua sử dụng.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPOA55 màu xanh nhạt, có kiểu máy CPH2325 thu giữ của Nguyễn Thị T6.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, kiểu máy CPH 2083, thu giữ của Trương Thị T5. Điện thoại đã qua sử dụng.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 14Promax màu đen thu giữ của Trần Thị Cẩm N2.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, model TA 1010 thu giữ của Trương Thị H.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu samsung Galaxy J8 màu đen thu giữ của Nguyễn Thị B; + 01 điện thoại nhãn hiệu samsung Galaxy A12 thu giữ của Nguyễn Thị B.

+ 01 (Một) điện thoại Samsung Galaxay J4, màu xanh, thu giữ của Nguyễn Quang D3. Đối với các điện thoại thu giữ của các bị cáo thì đây là các vật chứng liên quan đến việc phạm cần tuyên tịch thu để bán sung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc cần truy thu sung quỹ nhà nước. Tại phiên tòa đã làm rõ được số tiền từ việc phạm tội như sau: Phan Thị T2 13.400.000đ; Trương Thị H 20.030.000đ; Nguyễn Thị T6 6.950.000đ; Trương Thị T5 7.200.000đ; Nguyễn Thị B 41.280.000đ; Nguyễn Thị L 8.000.000đ; Trần Thị G 47.050.000đ; Nguyễn Quang D3 200.000₫.

Cần truy thu những người đánh với các bị cáo gồm: Trần Thị T9 800.000đ, Phạm Thị P 1.400.000đ, Vương Quốc H 2.510.000đ, Phạm Thị Lan A1 624.000đ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L, Phan Thị T2, Trần Thị G, Trương Thị H, Trương Thị T5, Nguyễn Thị B, Bùi Văn Đ, Nguyễn Quang D3, Trần Thị Cẩm N2, Nguyễn Thị T6 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 2, 3 điều 321, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điều 58, điều 65 đối với Nguyễn Thị L, Trần Thị G.

Áp dụng khoản 1, 3 điều 321; điểm x, s khoản 1, 2 điều 51, điều 58, điều 65 đối với Phan Thị T2.

Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điều 58, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38 đối với Trương Thị H.

Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm s, i khoản 1, 2 điều 51, điều 58, điều 65 đối với Nguyễn Thị B.

Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm s, i khoản 1, 2 điều 51, điều 58, điều 36 đối với Nguyễn Thị T6, Trần Thị Cẩm N2, Bùi Văn Đ, Nguyễn Quang D3, Trương Thị T5.

Xử phạt: Nguyễn Thị L 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng.

Trần Thị G 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng.

Xử phạt Phan Thị T2 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 tháng, phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng.

Xử phạt Trương Thị H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ của bị cáo từ ngày 20/12/2023 đến ngày 26/12/2023. Miễn phạt bổ sung bị cáo.

Xử phạt Nguyễn Thị B 27 (hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, miễn phạt bổ sung bị cáo.

Xử phạt Nguyễn Thị T6 20 (hai mươi) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ thời gian tạm giữ trước đó 06 ngày bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 19 (mười chín) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập bị cáo 500.000đ/ tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo về cho UBND xã N, huyện N, giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo

Xử phạt Trương Thị T5 22 (hai mươi hai) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian tạm giữ trước đó 06 ngày bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 21 (hai mươi mốt) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập 300.000đ/tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo về cho UBND xã N, huyện N, giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo

Xử phạt Trần Thị Cẩm N2 24 tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ thời gian tạm giữ trước đó 06 ngày bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 23 (hai mươi ba) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập bị cáo 500.000đ/ tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ khấu trừ thu nhập bị cáo 300.000đ/ tháng. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo về cho UBND xã Đ, thị xã T, giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo

Xử phạt Bùi Văn Đ 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được thời gian tạm giữ trước đó 06 ngày bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo về cho UBND xã N, huyện N, giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo

Xử phạt Nguyễn Quang D3 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo về cho UBND xã N, huyện N, giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo

Giao bị cáo Nguyễn Thị L, Trần Thị G, Nguyễn Thị B về cho UBND xã N, huyện N giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Phan Thị T2 về cho UBND xã N, huyện N giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng: Áp dụng điều 106 BLTTHS: tuyên tịch thu hóa giá để sung quỹ Nhà nước các vật chứng gồm:

  • + 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y51 màu xanh đen, kiểu máy V2035 thu giữ của Nguyễn Thị L; + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, model TA1174 thu giữ của Nguyễn Thị L. Điện thoại đã qua sử dụng.
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Opo màu đen, kiểu máy CHP1931thu giữ của Bùi Văn Đ.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A 12, màu xanh, thu giữ của Trần Thị G. Điện thoại đã qua sử dụng.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPOA55 màu xanh nhạt, có kiểu máy CPH2325 thu giữ của Nguyễn Thị T6.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, kiểu máy CPH 2083, thu giữ của Trương Thị T5. Điện thoại đã qua sử dụng.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 14Promax màu đen thu giữ của Trần Thị Cẩm N2.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, model TA 1010 thu giữ của Trương Thị H.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu samsung Galaxy J8 màu đen thu giữ của Nguyễn Thị B; + 01 điện thoại nhãn hiệu samsung Galaxy A12 thu giữ của Nguyễn Thị B.
  • + 01 (Một) điện thoại Samsung Galaxay J4, màu xanh, thu giữ của Nguyễn Quang D3.

Đặc điểm cụ thể các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện N và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Nghĩa Đàn ngày 15 tháng 4 năm 2024.

Tuyên truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm:

Truy thu của Nguyễn Thị T6 số tiền 6.950.000đ; truy thu của Trương Thị T5 số tiền 7.200.000đ; truy thu của Phan Thị T2 13.400.000đ; truy thu của Nguyễn Thị B số tiền 41.230.000đ; truy thu của Trương Thị H số tiền 20.030.000đ; truy thu của Nguyễn Thị L 8.000.000đ; truy thu của Trần Thị G 47.050.000đ; truy thu Nguyễn Quang D3 200.000đ; truy thu của Trần Thị T9 800.000đ; truy thu của Phạm Thị P 1.400.000đ; truy thu của Phạm Thị Lan A1 624.000đ; truy thu của Vương Quốc H 2.510.000đ.

Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326 về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Thị T6, Trương Thị T5, Phan Thị T2, Trần Thị G, Nguyễn Thị L, Trương Thị H, Trần Thị Cẩm N2, Nguyễn Thị B, Nguyễn Quang D3, Bùi Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan báo cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã nơi b/c cư trú;
  • - Các Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Phan Quang Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HSST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 32/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger