|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày 03 - 5 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hài
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thân và ông Lưu Xuân Hiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân thành phố Sông Công xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/ QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Hùng D, sinh ngày 18/01/1962, tại: tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ D, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Trình độ văn hoá (học vấn): 10/10;
Con ông Đỗ Tương T (Đỗ Văn T1) và bà Đỗ Thị G (đều đã chết), gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Có vợ là Lưu Thị M, sinh năm 1967 (đã chết) và Lê Thu T2, sinh năm 1973 và có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2009. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 07 chị em.
- Tiền án: 02.
+ Năm 1997 bị Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung (phạt tiền).
+ Năm 2019 bị Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong bán án ngày 15/02/2022.
- Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên và có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thu T2, sinh năm 1973 (Có mặt)
Nơi đăng ký HKTT: Tổ B, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
Chỗ ở hiện nay: Tổ D, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
2. Bà Lê Thị Bạch T3, sinh năm 1966 (Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi đăng ký HKTT: Tổ A, phường G, quận L, thành phố Hà Nội.
- Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963 (Vắng mặt).
Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố H, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 50 phút ngày 31/01/2024, tổ công tác Công an phường C, thành phố S làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực Tổ H, phường C, thành phố S thì phát hiện Đỗ Hùng D đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì D tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 túi nilon màu trắng, chứa chất rắn màu trắng. D khai nhận đó là ma túy mà D mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong số vật chứng nêu trên và đưa về trụ sở làm việc. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 20M8-3665.
Hồi 19 giờ 00 phút ngày 31/01/2024 CQĐT Công an thành phố S tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở hiện tại của Đỗ Hùng D tại Tổ dân phố D, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, kết quả: phát hiện 01 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước (7x4,7) cm, hai mặt có ám muội màu đen, phát hiện tại khay nhựa trong ngăn bàn kê tại gian để xe nhà ở của Đỗ Hùng D.
Ngày 31/01/2024, tại Phòng K - Công an tỉnh T, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S tiến hành mở niêm phong, cân vật chứng thu giữ của Đỗ Hùng D, xác định: Chất rắn màu trắng thu giữ của Đỗ Hùng D có khối lượng là 0,17 gam (không phẩy mười bẩy gam). Sau khi cân được đưa vào bì niêm phong ký hiệu M.
CQĐT Công an thành phố S đã trưng cầu giám định số chất rắn màu trắng thu giữ của Đỗ Hùng D. Tại bản kết luận giám định số 334 ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: chất rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,17 gam (không phẩy mười bảy gam).
Quá trình điều tra bị can Đỗ Hùng D khai nhận: Bản thân D là người nghiện ma túy từ năm 2017 đến nay. Khoảng 11 giờ ngày 31/01/2024, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ đen bạc, biển kiểm soát 20M8-3665 (là xe của bà Lê Thị Bạch T3 cho gia đình Dương mượn) đi từ nhà thuộc tổ dân phố D, phường P đến đoạn đường tròn thành phố S để tìm mua ma tuý về sử dụng. Đến nơi, D để xe ở vỉa hè và đi bộ vào đường dân sinh thuộc Tổ H, phường C, thành phố S thì thấy một nam thanh niên lạ mặt khoảng 30 tuổi, đội mũ, đeo khẩu trang, D không rõ họ tên, địa chỉ của người này. Nhìn thấy D, nam thanh niên hỏi “chơi không”, D hỏi lại “chơi gì” thì người này trả lời “trắng”. Hiểu ý là có mua ma túy hay không thì D trả lời “có để cho hai trăm”. D đi theo nam thanh niên vào ngõ đường bê tông giáp tường rào bên trái của siêu thị A1. Khi vào ngõ khoảng 10m thì nam thanh niên yêu cầu đưa tiền, D đưa tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng cho nam thanh niên, người này cầm tiền rồi chỉ lên bao thuốc lá để trên bờ tường rào siêu thị A rồi bỏ chạy. Dương cầm bao thuốc và đi ra phía đường đôi. Khi mở bao thuốc lá bên trong có chứa 01 túi nilon màu trắng chứa chất rắn màu trắng. D biết là ma tuý heroine nên cầm ra xe định đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an phường C kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu M bên trong chứa 0,157 gam chất ma tuý, loại heroine (mẫu M) và vỏ bao gói mẫu M; 01 bì niêm phong ký hiệu M1 chứa vỏ bì niêm phong ký hiệu A1 và vỏ túi nilon màu trắng; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 chứa 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng; 01 bì niêm phong ký hiệu BA chứa 01 mảnh giấy bạc màu trắng, kích thước (7x4,7) cm, hai mặt có ám muội màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 20M8-3665.
Bản cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đỗ Hùng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo D về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Hùng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm o khoản 2 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo D từ 05 năm đến 06 năm tù; về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu M bên trong chứa 0,157 gam chất ma tuý, loại heroine (mẫu M) và vỏ bao gói mẫu M; 01 bì niêm phong ký hiệu M1 chứa vỏ bì niêm phong ký hiệu A1 và vỏ túi nilon màu trắng; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 chứa 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng; 01 bì niêm phong ký hiệu BA chứa 01 mảnh giấy màu trắng, kích thước (7x4,7) cm, hai mặt có ám muội màu đen. Đề nghị trả lại cho bà Lê Thu T2 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, Biển kiểm soát 20M8-3665. Buộc bị cáo D phải chịu án phí hình sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách nhà nước.
Trong phần tranh tụng, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo D đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo D là người nghiện ma túy lâu năm đến nay chưa bỏ được, nên bị cáo thường xuyên đi tìm mua ma túy về với mục đích đẻ sử dụng cho bản thân. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 31/01/2024, bị cáo đi xe mô tô BKS 20M8-3665 (là xe của bà Lê Thị Bạch T3 cho em gái là Lê Thu T2-vợ của bị cáo) từ nhà thuộc Tổ dân phố D, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực đường tròn thành phố S, tỉnh Thái Nguyên và để xe trên vỉa hè rồi đi bộ vào đường dân sinh thuộc phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên gặp một người đàn ông (D không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này) đang đứng ở đó, người này hỏi “chơi không”, D hỏi lại “chơi gì” thì người này trả lời “trắng”, hiểu ý nên D trả lời “có để cho hai trăm”. Sau đó, D đi theo người này vào ngõ đường bê tông khoảng 10m thì người này yêu cầu đưa tiền, D đưa cho người đàn ông 200.000 đồng thì người này chỉ lên bao thuốc lá T4 để ở tường rào siêu thị A1 rồi bỏ chạy. Dương cầm bao thuốc và mở ra bên trong có chứa 01 túi nilon màu trắng, chứa chất rắn màu trắng, D biết đó là ma túy loại Heroine nên cầm ở tay và ra lấy xe mô tô để đi về nhà. Trên đường đi bộ ra lấy xe thì D bị tổ công tác Công an phường C bắt quả tang thu giữ vật chứng là 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 túi nilon chứa chất rắn màu trắng. Kết luận giám định xác định là ma túy loại Heroine có khối lượng 0,17 gam (không phẩy mười bảy gam).
Hành vi nêu trên của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. Trong quá trình điều tra xác định bị cáo đã phạm tội bị Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 30 tháng tù, phạt bổ sung 20.000.000 đ (Hai mươi triệu đồng) vào năm 1997, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung (là phạt tiền), năm 2019 bị cáo tiếp tục bị Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên (nay là thành phố P) xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bản án này xác định bị cáo là Tái phạm, do vậy khi xét xử về hành vi phạm tội hôm nay cần xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy, mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy, ... thì bị phạt tù từ năm 01 năm đến 05 năm...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
o) Tái phạm nguy hiểm...”
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý nói riêng, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nói chung. Như đã biết người sử dụng ma tuý gây tổn hại cho sức khoẻ, dẫn đến suy nhược, suy giảm, giảm khả năng lao động và là một trong các nguyên nhân làm nảy sinh, gia tăng tình hình tội phạm như: Trộm cắp tài sản, Cướp tài sản..., gây ảnh hưởng đến xấu đến tình hình an ninh trật tự nên cần phải xử lý nghiêm minh.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[5]. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, trong quá trình nghị án, HĐXX xem xét tình tiết bị cáo có bố đẻ là ông Đỗ Tương T được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì và mẹ đẻ là bà Đỗ Thị G được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6]. Xét nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Toà án xét xử về tội liên quan đến ma tuý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân, vì thoả mãn nhu cầu bản thân, bị cáo cố ý thực hiện phạm tội.
[7]. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hính sự, nhân thân của bị cáo. HĐXX cần xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù và buộc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng đồng thời góp phần ngăn ngừa, đấu tranh đối với tội phạm về ma túy nói chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[8]. Hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích lợi nhuận, bị cáo không việc làm ổn định, không thu nhập ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[9]. Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[10]. Về vật chứng và đồ vật liên quan đến vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, mảnh giấy bạc màu trắng là những vật chứng không còn giá trị sử dụng và vật chứng thuộc danh mục nhà nước cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 20M8-3665, đăng ký xe mang tên bà Lê Thị Bạch T3. Quá trình điều tra xác định, bà T3 đã cho em gái là bà Lê Thu T2 (vợ của bị cáo) quản lý, sử dụng. Bà T2 không biết việc bị cáo lấy xe để đi mua ma túy sử dụng cho bản thân nên cần trả lại cho bà Lê Thu T2 xe mô tô quản lý, sử dụng là phù hợp.
[11]. Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[12]. Về nguồn gốc số ma túy D khai mua của người đàn ông tại khu vực đường dân sinh thuộc tô H, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được họ tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các Điều 106, 136, 299, 331, 333 và Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/ NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Hùng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Hùng D 05 (Năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 31/01/2024.
Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo D 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án
Không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đối với bị cáo D.
Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (Một) bì niêm phong ký hiệu M bên trong chứa 0,157 gam chất ma tuý, loại heroine (mẫu M) và vỏ bao gói mẫu M;
+ 01 (Một) bì niêm phong ký hiệu M1 chứa vỏ bì niêm phong ký hiệu A1 và vỏ túi nilon màu trắng;
+ 01 (Một) bì niêm phong ký hiệu A2 chứa 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng;
+ 01 (Một) bì niêm phong ký hiệu BA chứa 01 mảnh giấy màu trắng, kích thước (7x4,7) cm, hai mặt có ám muội màu đen.
- Trả lại cho bà Lê Thu T2 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 20M8-3665, số khung: Y014478, số máy: C45E-0049976.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/4/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Hùng D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thu T2, báo cho biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Bạch T3, báo cho bà T3 biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Hài |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm o khoản 2 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các Điều 106, 136, 299, 331, 333 và Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/ NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Hùng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
