|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày 03 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phấn;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Thái Việt
- Ông Nguyễn Hồng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Nam Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ H, sinh ngày 01/01/1971 tại: Khánh Hòa. Giới tính: Nữ. Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Nội trợ. Cha: Nguyễn Văn M (Chết). Mẹ: Huỳnh Thị C (Chết). Chồng: Võ Văn Đ, sinh năm 1973 (đã ly hôn). Có 02 con lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1987; trú tại: Thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
Người làm chứng: Bà Đinh Thị Ngọc N, sinh năm 1984; trú tại: Tổ A N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2014, Nguyễn Thị H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Sổ đỏ) của thửa đất số 123, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, số BT 909552, vào sổ cấp giấy chứng nhận CH03551 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 23/12/2014.
Vào đầu năm 2015, H dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên để vay tiền của một người tên N1 ở N (không rõ lai lịch, địa chỉ) với số tiền 50.000.000 đồng, (khi vay thì H đưa cho N1 giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Sau đó, N1 thông báo với H là đã làm mất sổ đỏ của H. Nên ngày 01/12/2015, H có đơn khai báo mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gửi tới UBND xã V và Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, đề nghị được cấp lại giấy chứng nhận đối với thửa đất trên.
Ngày 29/01/2016, H đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CA793913, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS00038, đối với thửa đất 123 tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
Đến năm 2017 thì N1 tìm thấy số đỏ của H đã đưa cho N1 trước đó và trả lại cho H nên H có hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Ngày 19/01/2018, Nguyễn Thị H đã tặng thửa đất số 123, tờ bản đồ số 29 trên cho Võ Văn Anh V (con trai H) và đã làm thủ tục đăng kí biến động chuyển quyền sử dụng đất sang tên của V.
Do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, mặc dù biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BT 909552 được Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 23/12/2014 đối với thửa đất số 123, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa do H đứng tên chủ sở hữu không còn gía trị nhưng H vẫn ký hợp đồng vay và thế chấp tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất, số BT 909552 cho Huỳnh Minh T, trú tại thôn B, xã V, huyện V để vay số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). T không biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BT 909552 hiện không còn giá trị nên đồng ý cho H vay tiền. H và T làm hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản tại Văn phòng C1; địa chỉ số D Đ, Thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. H vay của T số tiền là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng),
3
với lãi suất là 20%/ năm, thời hạn vay là 12 tháng, trả gốc và lãi một lần vào cuôi kỳ và T giữ của H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất số BT 909552 (giấy không còn giá trị). Đến tháng 09/2019, thời điểm đáo hạn theo hợp đồng, T có yêu cầu H trả lại số tiền đã cho vay cùng lãi suất theo hợp đồng. Tuy nhiên, H không trả mà bỏ trốn khỏi địa phương. Sau khi phát hiện sự việc thì Huỳnh Minh T đã làm đơn tố cáo Nguyễn Thị H. Sau khi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra thì Nguyễn Thị H đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng vụ án: 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BT 909552 được Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 23/12/2014 đối với thửa đất số 123, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa mang tên Nguyễn Thị H (bản chính), đề nghị tịch thu và tiêu hủy.Về dân sự: Huỳnh Minh T yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị H phải trả lại số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) cho Huỳnh Minh T.
Tại bản Cáo trạng số: 27 CT-VKSVN, ngày 15 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố Nguyễn Thị H về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh và khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H với mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải trả lại số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) cho Huỳnh Minh T; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu và tiêu hủy 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BT 909552 được Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 23/12/2014 đối với thửa đất số 123, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa mang tên Nguyễn Thị H (bản chính). Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình
4
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Người làm chứng Đinh Thị Ngọc N vắng mặt; tuy nhiên không ai có ý kiến hoặc yêu cầu gì về sự vắng mặt này và lời khai của họ có tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của nhân chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ điểm Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án: Trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng số 27/CT-VKSVN, ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Ngày 14/9/2018, tại: Số D, đường Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Nguyễn Thị H biết rõ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BT 909552 được Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 23/12/2014 đối với thửa đất số 123, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa không còn giá trị nhưng H đã dùng thủ đoạn gian dối lừa Huỳnh Minh T nhận thế chấp vay tiền và chiếm đoạt số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) của Huỳnh Minh T sau đó không có khả năng trả nợ và bỏ trốn khỏi địa phương. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số 27/CT-VKSVN, ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có cơ sở và đúng các quy định của pháp luật.
Tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định: “3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân
5
nên vẫn thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi, nhân thân của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.
Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, truy tố; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần phần hình phạt để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội. Miễn hình phạt bổ sung về đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Khánh Hòa có thu giữ 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BT 909552 được Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 23/12/2014 đối với thửa đất số 123, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa mang tên Nguyễn Thị H (bản chính) và hiện đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh đề nghị tịch thu và tiêu hủy. Tuy nhiên, để có cơ sở làm chứng cứ về sau. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết tiêu hủy mà tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải trả lại số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) cho ông Huỳnh Minh T.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H;
Áp dụng Điều 293, Điều 331, Điều 333, Điều 336 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị H 08 (tám) năm tù về tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải trả lại số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) cho ông Huỳnh Minh T.
6
- Về vật chứng: Tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BT 909552 được Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 23/12/2014 đối với thửa đất số 123, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa mang tên Nguyễn Thị H (bản chính).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị H, bị hại Huỳnh Minh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Phấn |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H; Áp dụng Điều 293, Điều 331, Điều 333, Điều 336 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. 1. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị H 08 (tám) năm tù về tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
