Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EA H'LEO

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03-5-2024

V/v Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khắc Vũ.

Ông Ksor Af Lai.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Hồ Quang Phúc – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H'Leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 114/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Kim L, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn 6B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt (đề nghị giải quyết vắng mặt).
  2. Bị đơn: Anh Trần Văn V, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn 6B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt (đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình làm việc nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh V chung sống với nhau từ năm 2002 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cư Mốt, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk, hai người chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không có ai ép buộc. Tuy nhiên, sau khi về chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách, lối sống không hợp nhau. Mặc dù đã cố gắng để hàn gắn nhưng cả hai vẫn không tìm được tiếng nói chung. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh V được nữa nên chị L yêu cầu ly hôn với anh V.

- Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống chị L và anh V có 04 con chung là: Trần Thị Kim, sinh ngày 14/8/2002; cháu Trần Thị Kim Đ, sinh ngày 30/9/2007; cháu Trần Hưng H, sinh ngày 11/5/2010; cháu Trần Thị Mỹ L, sinh ngày 10/7/2017. Chị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu đến khi trưởng thành và giao các cháu Đ, H cho anh Vi trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Cháu L đã trưởng thành nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai anh Trần Văn V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh V và chị L chung sống với nhau từ năm 2002 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cư Mốt, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk, hai người chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện và không có ai ép buộc. Tuy nhiên, sau khi về chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách, lối sống không hợp nhau. Mặc dù đã cố gắng để hàn gắn nhưng cả hai vẫn không tìm được tiếng nói chung. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với chị L được nữa nên anh V đồng ý ly hôn với chị .

- Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống chị L và anh V có 04 con chung là: Trần Thị Kim L, sinh ngày 14/8/2002; cháu Trần Thị Kim Đ, sinh ngày 30/9/2007; cháu Trần Hưng H, sinh ngày 11/5/2010; cháu Trần Thị Mỹ L, sinh ngày 10/7/2017. Nay ly hôn anh V đồng ý giao cháu L cho chị Liên trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành và có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, cháu H đến khi trưởng thành, còn cháu L đã trưởng thành nên anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh V tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án về cơ bản là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ đã được thu thập tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị ; cần cho chị L được ly hôn với anh V; giao cháu Trần Thị Kim , sinh ngày 30/9/2007; cháu Trần Hưng H, sinh ngày 11/5/2010 cho anh Trần Văn V, giao cháu Trần Thị Mỹ L, sinh ngày 10/7/2017 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành. Đối với con chung là Trần Thị Kim L, sinh ngày 14/8/2002 đã trưởng thành nên không đề cập, giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Chị Huỳnh Thị Kim L và anh Trần Văn V là vợ chồng. Do quá trình chung sống giữa Anh Chị phát sinh mâu thuẫn nên chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh V và Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.

    Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Liên có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải nên theo khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được. Chị L và anh V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

  2. Về nội dung: Chị L và anh V chung sống với nhau từ năm 2002 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cư Mốt, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận kết hôn số 186, quyển số 05, ngày 09/12/2002. Tuy nhiên, sau khi về chung sống một thời gian thì hai người phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách, lối sống không hợp nhau. Mặc dù đã cố gắng để hàn gắn nhưng cả hai vẫn không tìm được tiếng nói chung. Thực tế hiện nay, chị L và anh V đã sống ly thân. Nay nhận thấy chị L và anh V không còn yêu thương, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại, nếu tiếp tục chung sống cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai người. Mặt khác, anh V cũng đồng ý ly hôn với chị L. Vì vậy, cần cho chị L và anh V được ly hôn.
  3. Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống chị L và anh V có 04 con chung: Cháu Trần Thị Kim L, sinh ngày 14/8/2002; cháu Trần Thị Kim Đ, sinh ngày 30/9/2007; cháu Trần Hưng H, sinh ngày 11/5/2010; cháu Trần Thị Mỹ L, sinh ngày 10/7/2017. Chị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, anh V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu và cháu H cho đến khi các cháu trưởng thành. Cháu Đ và cũng có nguyện vọng ở với anh Vi, cáu L còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ. Vì vậy, cần giao cháu Trần Thị Kim, cháu Trần Hưng H cho anh V; giao cháu Trần Thị Mỹ cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành.

Đối với con chung là cháu Trần Thị Kim L, sinh ngày 14/8/2002 đã trưởng thành nên không đề cập xem xét.

  1. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L và anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.
  2. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.
  3. Về án phí dân sự: Chị L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Kim Liên.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kim L được ly hôn với anh Trần Văn V.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thị Kim Đ, sinh ngày 30/9/2007; cháu Trần Hưng H, sinh ngày 11/5/2010 cho anh Trần Văn V, giao cháu Trần Thị Mỹ L, sinh ngày 10/7/2017 cho chị Huỳnh Thị Kim L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Cháu Trần Thị Kim L, sinh ngày 14/8/2002 đã trưởng thành nên không đề cập xem xét, giải quyết.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Huỳnh Thị Kim L và anh Trần Văn V không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem xét.

    Chị Huỳnh Thị Kim L và anh Trần Văn V có quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Thị Kim L và anh Trần Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai số: AA/2023/0001914, ngày 19/3/2024.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim L, bị đơn anh Trần Văn V vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
  • - Viện KSND huyện Ea H'leo;
  • - Chi cục THADS huyện E;
  • - UBND xã Cư Mốt (GCNKH số 186, ngày 09/12/2002).
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Đăng Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. - Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Kim Liên. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kim L được ly hôn với anh Trần Văn V. 2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thị Kim Đ, sinh ngày 30/9/2007; cháu Trần Hưng H, sinh ngày 11/5/2010 cho anh Trần Văn V, giao cháu Trần Thị Mỹ L, sinh ngày 10/7/2017 cho chị Huỳnh Thị Kim L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Cháu Trần Thị Kim L, sinh ngày 14/8/2002 đã trưởng thành nên không đề cập xem xét, giải quyết. 3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Huỳnh Thị Kim L và anh Trần Văn V không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem xét.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger