|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 32/2024/HSST Ngày 02/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Vị.
Ông Nguyễn Bằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Lại Phương Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Ông Dương Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường Nhà văn hóa UBND xã Đ, huyện Sông Lô. Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử lưu động công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/HSST ngày 17/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 22/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh ngày 08 tháng 6 năm 1980; Nơi đăng ký hộ khẩu: thôn P, xã T, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Q (đã chết) và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956; Vợ Nguyễn Thị H (đã ly hôn). Có 01 con sinh năm 2012; Tiền án: Không.
Tiền sự: 02 (Tại Quyết định số 37 ngày 04/6/2021 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, đến ngày 20/02/2023 chấp hành xong thời hạn; Tại Quyết định số 06 ngày 19/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, chưa chấp hành).
Nhân thân: Tại bản án số 332/2017/HSST ngày 08/9/2017, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Sông (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
Anh Đỗ Ngọc H, sinh năm 1988, (có mặt).
Trú tại: thôn P, xã T, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nghiện chất ma tuý nên khoảng hơn 07 giờ ngày 06/4/2024, Nguyễn Văn L ở thôn P, xã T, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang mượn xe môtô BKS: 22H6-9895 của anh Đỗ Ngọc H ở cùng thôn Phú Thịnh đến khu vực ngã ba xã H, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma tuý sử dụng (anh H không biết L đi mua ma tuý), tại đây L gặp người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ hỏi mua được 01 gói ma tuý loại heroine gói bằng giấy bạc thuốc lá và đúc trong bao thuốc lá Thăng Long màu vàng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được chất ma tuý, L cầm trên tay trái trên đường về để sử dụng, khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến thôn H, xã B, huyện Sông Lô thì bị Công an huyện Sông Lô kiểm tra, phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong mẫu ký hiệu A1 và toàn bộ vật chứng liên quan.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành trưng cầu Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định chất ma túy đối với mẫu A1 thu giữ được của Nguyễn Văn L. Ngày 10/4/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Văn bản số 975/KLGĐ kết luận: Mẫu cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1572g loại heroine.
Về nguồn gốc số ma túy, L khai nhận mua được của một người đàn ông ở xã Hải Lựu không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không xác định được con người cụ thể. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý theo pháp luật.
Tại bản cáo trạng số: 34/CT - VKSSL ngày 15/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Nguyễn Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận gì.
Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Luân không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 06 tháng 4 năm 2024, tại khu vực thôn H, xã B, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện Sông Lô phát hiện bắt quả tang bị cáo đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1572gam ma tuý loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân và thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản lời khai và bản kiểm điểm của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn Luân phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Do đó bản cáo trạng số: 34/CT - VKSSL ngày 15/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Nguyễn Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không bị oan.
[3] Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự, an ninh ở địa phương nhất là trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước có những chủ trương, biện pháp đấu tranh không khoan nhượng đối với các loại tội phạm về ma tuý nhưng trên địa bàn huyện Sông Lô nói chung tội phạm về ma tuý diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng, nó cũng là mầm mống nảy sinh những tội phạm khác như: Trộm cắp, lừa đảo, cướp giật tài sản......Do vậy cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và dăn đe những kẻ khác góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
[4] Về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu đã bị Tòa án xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và nhiều lần bị áp dụng xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chưa chấp hành nhưng không lấy đó làm bài học mà lại lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, luôn có ý thức chấp hành pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh và tại phiên tòa bị cáo xác nhận là người nghiện ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định A1= 0,1205g ma túy cùng toàn bộ bao gói được niêm phong cùng MẪU TRẢ VỤ 894/2024; 01 xi lanh nhựa, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 01 ví giả da không còn giá trị sử dụng.
Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA, sơn màu xanh, BKS 22H6 - 9895, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Đỗ Ngọc H. Anh H không biết L sử dụng xe đi mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy ở trên người, cần xem xét trả lại cho anh Hoàn đúng chủ sở hữu là phù hợp.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo L phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2/ Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Phạt: Nguyễn Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06 tháng 4 năm 2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Luân để đảm bảo Thi hành án.
3/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1= 0,1205g ma túy cùng toàn bộ bao gói được niêm phong dán kín trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 894/2024“; 01 xi lanh nhựa, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 01 ví giả da.
Trả lại anh Đỗ Ngọc H 01 xe môtô HONDA, sơn màu xanh, BKS 22H6 - 9895, không kèm theo giấy phép đăng ký xe, không có gương chiếu hậu bên phải không kiểm tra chất lượng bên trong xe (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2024 của Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).
4/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Án xử công khai: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Kiên Thành |
Bản án số 32/2024/HSST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 32/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L phạm tội TTTP chất ma túy
