|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02-5-2024 V/v Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH – TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông K' My Na.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Duy Trâm;
2. Bà Lê Thị Chung.
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Ông K' Dem- Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2024/TLST-HNGĐ ngày 21-02-2024 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 18-3-2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QÐST-HNGĐ ngày 08 -4-2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Bà Cao Thị Thanh T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Công ty G, đường số F khu công nghiệp L, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
+ Bị đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1985.
Địa chỉ: H N, tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Bà T có mặt, ông H vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai và lời trình bày tại phiên tòa bà T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H tự nguyện kết hôn năm 2010, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện D. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà và ông H có 02 con chung tên Phạm Đăng K, sinh ngày 05-8-2010 và Phạm Gia K1, sinh ngày 15-9-2012, khi ly hôn bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Tài sản chung, tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản.
Vào khoảng năm 2013, bà có ký vào hợp đồng vay ngân hàng chính sách xã hội phòng giao dịch Di L cho gia đình nhà chồng, số tiền trên do ông H và gia đình ông H sử dụng, bà xác định nợ trên là nợ riêng của ông H và gia đình ông H không liên quan gỉ đến bà. Toà án đã thông báo thụ lý vụ án cho người liên quan nhưng không có ý kiến.
Bị đơn ông H đã được tống đạt hợp lệ các căn bản tố tụng nhưng vắng mặt nên không có ý kiến.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng có quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung giải quyết vụ án, căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa ông Phạm Văn H vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H tự nguyện kết hôn năm 2010, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay. Bà T xác định vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quết lý hôn, ông H lại vắng mặt không có ý kiến. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 bà T được ly hôn ông H là phù hợp.
[3] Về con chung: Bà T xác định, bà và ông H có 02 con chung tên Phạm Đăng K, sinh ngày 05-8-2010 và Phạm Gia K1, sinh ngày 15-9-2012, khi ly hôn bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con, ông H lại vắng mặt không có ý kiến. Xét quyền lợi của con, để đảm bảo và ổn định cuộc sống, khả năng nuôi dưỡng của mỗi bên. Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
[4] Về tài sản: Bà T xác định tài sản chung, tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung không có, ông H lại vắng mặt không có ý kiến. Khi ly hôn bà T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết về tài sản. Nếu có tranh chấp về tài sản sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có đơn yêu cầu.
[5] Vào khoảng năm 2013, bà T có ký vào hợp đồng vay ngân hàng chính sách xã hội phòng giao dịch Di L cho gia đình nhà chồng, số tiền trên do ông H và gia đình ông H sử dụng, bà xác định nợ trên là nợ riêng của ông H và gia đình ông H không liên qan gỉ đến bà. Toà án đã thông báo thụ lý vụ án cho người liên quan nhưng không có ý kiến nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có đơn yêu cầu.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 của bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị Thanh T được ly hôn ông Phạm Văn H.
- Về con chung: Giao các con chung tên Phạm Đăng K, sinh ngày 05-8-2010 và Phạm Gia K1, sinh ngày 15-9-2012 cho bà Cao Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Phạm Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Bà Cao Thị Thanh T phải chịu 300.000đ án phí xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005585 ngày 21-02-2024 của Chi cục thi án dân sự huyện D.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA K' My Na |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
