Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày: 04/3/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phượng
Thẩm phán: Ông Trần Ngọc Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Đương
Ông Hoàng Xuân Trường
Ông Hoàng Văn Hưng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 48/TB-TA ngày 28/02/2025, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Quốc B, sinh năm 1985 tại Gia Lâm, Hà Nội; nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đức Đ; con bà Nguyễn Thị G; vợ: Nguyễn Thị H (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2008;

Tiền án: Bản án số 33/2018/HSST ngày 02/02/20218 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt Nguyễn Quốc B 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong nghĩa vụ án phí của bản án ngày 05/02/2024;

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 04/3/2010 bị Công an huyện H, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Kinh doanh cầm đồ trái phép; Ngày 04/9/2017 bị Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về việc không giao nộp công cụ hỗ trợ;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Hùng P - Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh H, có mặt.

2/ Họ và tên: Nguyễn Hồng H1, sinh năm 1993 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đức H2 (đã chết); con bà Nguyễn Kim O; chồng Vũ Tuấn T và 01 con sinh năm 2022;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án số 150/2015/HSST ngày 26/6/2015 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt Nguyễn Hồng H1 54 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong bản án ngày 04/10/2018; Bản án số 214/HSST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/6/2024 tại Trại giam S1 - Công an thành phố H. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T3 - Bộ C (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Mai Tiến T1 - Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh H, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Chị Lê Thị Ngọc L, sinh năm 1999; trú tại: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

Người làm chứng:

  • Anh Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1980; trú tại: Số G, T, ngõ F, phường B, quận H, Hà Nội.
  • Ông Lê Văn D1, sinh năm 1961;
  • Anh Chu Văn T2, sinh năm 1991;
  • Đều trú tại: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Anh Nguyễn Đức S, sinh năm 1981; trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện G, Hà Nội.
  • Anh Lò Văn Q, sinh năm 2000; trú tại: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.

(Những người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy:

Ngày 15/12/2023, vào lúc 07h00, tại khu nhà trọ của ông Lê Văn D1 (thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên), Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V bắt quả tang Nguyễn Quốc B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon màu trắng (5,5 cm x 4 cm) chứa chất tinh thể màu trắng; 01 ống thủy tinh; 01 mảnh giấy bạc (18 cm x 1,3 cm); 01 coóng tự chế bằng chai nhựa; 01 coóng tự chế bằng chai thủy tinh; 01 bật lửa ga màu đỏ.

Cùng ngày, lúc 09h00, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Quốc B tại phòng trọ số 4 cùng khu vực trên. Tại thời điểm khám xét, có mặt chị Lê Thị Ngọc L (SN 1999, trú tại thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, là người yêu của B). Quá trình khám xét thu giữ: Trong tủ gỗ cạnh giường ngủ có 01 mảnh giấy bạc (25 cm x 8,5 cm); 01 hộp kim loại chứa túi nilon màu tím có 19 viên nén màu đỏ, 02 viên nén màu xanh; 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng; nhiều túi nilon nhỏ và giấy bạc khác. Tại giá để đồ trong phòng vệ sinh thu giữ 01 túi vải màu xanh bên trong có túi nilon chứa 03 viên nén màu vàng; 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng; 01 ống nhựa màu đỏ chứa 15 viên nén màu đỏ; 01 hộp giấy màu đỏ có 04 túi nilon chứa chất màu trắng dạng cục, bột; 01 ống nhựa màu đen chứa 36 viên nén màu đỏ; 01 cân điện tử. Trên giường ngủ thu giữ 04 điện thoại di động (Iphone 15 Pro Max, XS Max, 13, 11) và 03 xe máy (Honda Wave RSX biển số 28D1-126.13, Honda Dream không biển số, Honda SH biển số 29N1-580.78).

Kết luận giám định số 38/KL-KTHS(MT) ngày 18/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H xác định:

  • Mẫu M1-1: Chất tinh thể màu trắng, khối lượng 4,842g, là ma túy loại Methamphetamine.
  • Mẫu M1 (trong ống thủy tinh): Xác định có ma túy loại Methamphetamine nhưng không xác định được khối lượng.
  • Mẫu M1 (trên giấy bạc): Có dấu vết của ma túy loại Methamphetamine.
  • Mẫu M2-1: Viên nén màu đỏ, khối lượng 1,957g, là ma túy loại Methamphetamine.
  • Mẫu M2-2: Viên nén màu xanh, khối lượng 0,204g, xác định không phải là ma túy.
  • Mẫu M2-3: Chất tinh thể màu trắng, khối lượng 0,364g, là ma túy loại Methamphetamine.
  • Mẫu M2-4: Viên nén màu vàng, khối lượng 1,211g, là ma túy loại MDMA.
  • Mẫu M2-5: Viên nén màu đỏ, khối lượng 1,542g, là ma túy loại Methamphetamine.
  • Mẫu M2-6: Chất tinh thể màu trắng, khối lượng 0,880g, là ma túy loại Ketamine.
  • Mẫu M2-7: Chất màu trắng dạng cục và bột, khối lượng 98,536g, là ma túy loại Heroine (D). Chất này thuộc danh mục được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
  • Mẫu M2-8: Viên nén màu đỏ, khối lượng 3,705g, là ma túy loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Quốc B mua toàn bộ số ma túy trên từ Nguyễn Hồng H1. H1 và B thỏa thuận H1 sẽ để ma túy trong túi nilon tại bãi rác gần cổng Trường THPT C1 (xã C, huyện G, TP Hà Nội) để B đến lấy.

Từ ngày 21/9/2023 đến 11/12/2023, H1 đã 3 lần bán ma túy cho B:

  • Lần thứ nhất (21/9/2023), H1 bán 01 túi ma túy đá và 10 viên ma túy ngựa đỏ với giá 10.000.000 đồng, thanh toán sau.
  • Lần thứ hai (04/12/2023), H1 bán 37 viên ma túy ngựa đỏ, 02 viên màu xanh và 02 túi nilon chứa ma túy đá với giá 50.000.000 đồng, thanh toán sau. Ngày 05/12/2023, B chuyển khoản 70.000.000 đồng cho H1 (gồm cả khoản vay 10.000.000 đồng).
  • Lần thứ ba (09/12/2023), B hỏi mua 3 cây Heroine và ma túy ngựa với giá 92.000.000 đồng, thanh toán sau. Khi nhận hàng, B phát hiện số lượng thiếu và thông báo qua Messenger. Ngày 10/12/2023, B chuyển 183.000.000 đồng cho H1 (gồm tiền ma túy và khoản vay).

Ngày 11/12/2023, H1 cùng Nguyễn Tuấn D đến chợ Đ1, huyện V để gặp B. Sau đó, H1 giao thêm H3 và ma túy tổng hợp cho B cất giấu tại phòng trọ.

Nguyễn Hồng H1 chỉ thừa nhận giao dịch ngày 11/12/2023 và phủ nhận các giao dịch trước đó. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của B, sao kê tài khoản ngân hàng, tin nhắn M cùng các tài liệu chứng cứ khác, đủ cơ sở kết luận H1 đã bán ma túy cho B vào các ngày trên. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Hồng H1 bỏ trốn. Đến ngày 27/6/2024, H1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, TP Hà Nội bắt giữ về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy:

Nguyễn Quốc B và Lê Thị Ngọc L có quan hệ tình cảm và cùng thuê phòng trọ. Khoảng 23h00 ngày 14/12/2023, B rủ L sử dụng ma túy đá và ma túy ngựa bằng cách đốt chảy trên giấy bạc rồi hút qua coóng thủy tinh. Sáng hôm sau, cả hai bị cơ quan Công an kiểm tra và bắt giữ. Kết quả xét nghiệm ma túy ngày 15/12/2023 tại Trung tâm Y tế huyện V xác định B và L đều dương tính với A và M1.

Xử lý vật chứng và đồ vật thu giữ:

Xe mô tô Honda SH biển số 29N1-580.78 thu giữ của Nguyễn Quốc B được xác định thuộc sở hữu của Nguyễn Đức S (anh trai B), không biết việc Bảo tàng trữ ma túy. Ngày 25/7/2024, cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu.

Xe Honda Wave RSX biển số 28D1-126.13 được xác định thuộc sở hữu của anh Lò Anh Q1 (SN 2000, trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình), bị trộm tại huyện V nhưng không trình báo. Ngày 25/7/2024, cơ quan điều tra bàn giao xe cho Công an huyện V để xử lý.

Các vật chứng khác gồm niêm phong mẫu vật giám định số 38/KL-KTHS(MT), 04 điện thoại di động, xe Honda Dream không biển kiểm soát, cân điện tử, 02 bộ coóng, bật lửa ga, căn cước công dân của B và L hiện được quản lý tại kho vật chứng Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.

Cáo trạng số 03/CT-VKS-P1 ngày 18/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Hồng H1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Quốc B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo Nguyễn Quốc B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo khẳng định toàn bộ số ma túy bị thu giữ ngày 15/12/2023 đều là mua của Nguyễn Hồng H1 và trước đó đã mua ma túy 03 lần của Nguyễn Hồng H1.
  • Bị cáo Nguyễn Hồng H1 thừa nhận đã bán ma túy 03 lần cho B như nội dung B trình bày, H1 xác định những lời phủ nhận trước đây là do H1 không nhớ, nay bị cáo thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không thắc mắc gì.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết của vụ án, giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng đã nêu. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng H1 phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý; Nguyễn Quốc B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H1 20 năm tù. Tổng hợp hình phạt 03 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại Bản án số 214/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 23 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/6/2024.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 4 Điều 249; khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc B từ 16 năm đến 16 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 18 năm 6 tháng đến 19 năm 6 tháng thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và án phí theo quy định.

- Người bào chữa cho các bị cáo cùng có quan điểm xác định nội dung Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng về tội danh và điều luật; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để xử các bị cáo mức án thấp nhất.

Các bị cáo đều xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại đối với hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Có đủ cơ sơ kết luận:

Ngày 15/12/2023, tại thôn T, xã T, V, Hưng Yên, Nguyễn Quốc B có hành vi tàng trữ ma túy, cụ thể: 98,536g H, 12,410g Methamphetamine, 1,211g MDMA và 0,880g Ketamine. Ngoài ra, rạng sáng cùng ngày, B đã cung cấp ma túy đá, ma túy ngựa cho Lê Thị Ngọc L sử dụng trái phép.

Trong các ngày 21/9/2023, 04/12/2023 và 09/12/2023, Nguyễn Hồng H1 đã 03 lần bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Quốc B; ngày 11/12/2023 H1 giao thêm lượng ma túy còn thiếu cho B. Khối lượng ma túy tương ứng với lượng ma túy mà B đang tàng trữ và một phần đã được sử dụng, tổng số tiền 03 lần giao dịch là 152.000.000 đồng.

Hành vi của Nguyễn Quốc B đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 4 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; hành vi của Nguyễn Hồng H1 đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, với tổng số lượng ma túy hai bên giao dịch là 112,157 gam (Heroine, Methamphetamine, MDMA) và 0,880g Ketamine; ngoài ra hành vi cung cấp ma túy và công cụ cho người khác sử dụng của B đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 03/CT-VKS-P1 ngày 18/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất hành vi phạm tội vị trí, vai trò của các bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, đồng thời xâm hại đến sức khỏe con người, gây ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự, an toàn xã hội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất ổn định an ninh trật tự, tạo tâm lý lo lắng, bức xúc trong quần chúng nhân dân tại địa phương.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi cũng như tác hại nghiêm trọng của ma túy đối với người sử dụng và toàn xã hội. Tuy nhiên, vì động cơ vụ lợi và động cơ cá nhân, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Hồng H1 có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Quốc B để B thực hiện hành vi tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép. Hành vi phạm tội của từng bị cáo là độc lập, mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi đã thực hiện.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với nhau; bị cáo B nhiều lần tàng trữ trái phép chất ma túy nên đều phải chịu tình tiết phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; ngoài ra bị cáo B đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu thêm tình tiết tăng nặng Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bố đẻ bị cáo B được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba, Huân chương chiến công hạng nhất nên bị cáo B được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội phạm ma túy.

[5] Về hình phạt chính:

Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, bảo đảm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo. Việc áp dụng hình phạt tù và tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định là cần thiết để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Hồng H1 có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhằm mục đích vụ lợi, lẽ ra áp dụng hình phạt bổ sung để phạt tiền đối với bị cáo nhưng xét hoàn cảnh bị cáo khó khăn, đang phải chấp hành án. Bị cáo Nguyễn Quốc B, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm mục đích để sử dụng, không có mục đích vụ lợi, bản thân không có công việc ổn định, không có tài sản riêng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • 01 hộp bìa cattong niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 38/KL-KTHS (MT) ngày 18/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh H; 01 cân điện tử, 02 bộ cóong, 01 bật lửa gas, 01 cân điện tử là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro max, màu bạc đã qua sử dụng của Nguyễn Quốc B; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream không biển kiểm soát là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng giao dịch mua bán ma túy nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu đen, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Quốc B và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu đen, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lê Thị Ngọc L, do không liên quan đến hành vi phạm tội nên được trả lại bị cáo B và chị L.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng H1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo Nguyễn Quốc B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

2. Hình phạt:

  • Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H1 20 (hai mươi) năm tù. Tổng hợp hình phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại Bản án số 214/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 23 (hai mươi ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/6/2024.
  • Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc B 16 (mười sáu) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và 03 (ba) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 19 (mười chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023.

3. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) Hộp bìa cattong niêm phong ghi số 38/KL-KTHS hoàn mẫu vật gửi sau giám định của Phòng K- Công an tỉnh H được dán giấy niêm phong có 06 (sáu) chữ ký và 06 (sáu) hình dấu tròn đỏ; 01 (một) bộ cóong tự chế bằng chai nhựa cao 15cm, có nắp chai nhựa màu vàng gắn cố định gồm 01 ống hút nhựa dài 48cm, đường kính 0,5cm và 01 ống hút nhựa dài 1,5cm; 01 (một) bộ cóong tự chế bằng chai thủy tinh cao 09cm, trên bình được dán băng dính màu đen gắn cố định gồm 01 ống thủy tinh dài 03cm nối với phần ống nhựa dài 18cm và 01 ống thủy tinh dài 2,5cm nối với phần ống nhựa dài 03cm; 01 (một) chiếc bật lửa gas, màu đỏ; 01 (một) Phong bì niêm phong ghi ký hiệu M3 (bên trong có 01 chiếc cân điện tử màu đen, kích thước 12,5x7,5x1,8cm) được dán giấy niêm phong có 06 (sáu) chữ ký và 02 (hai) hình dấu tròn đỏ.
  • Tịch thu, phát mại sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng IPHONE, màu bạc bên trong có lắp một sim liên lạc thuê bao thu giữ của Nguyễn Quốc B có 03 (ba) chữ ký và 06 (sáu) hình dấu tròn đỏ trong 01 (một) phong bì niêm phong ghi ký hiệu M4; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, màu nâu, không gắn biển kiểm soát, số máy: C100ME8050432, số khung: C100M-8050432.
  • Trả lại Nguyễn Quốc B: 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng IPHONE, màu đen thu giữ của Nguyễn Quốc B có 03 (ba) chữ ký và 06 (sáu) hình dấu tròn đỏ trong 01 (một) phong bì niêm phong ghi ký hiệu M5; 01 (một) thẻ Căn cước công dân số 001085019906 do Cục C2 về TTXH cấp ngày 01/5/2021 cho Nguyễn Quốc B.
  • Trả lại chị Lê Thị Ngọc L: 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng IPHONE, màu đen bên trong có lắp một sim liên lạc thuê bao thu giữ của Lê Thị Ngọc L) có 03 (ba) chữ ký và 06 (sáu) hình dấu tròn đỏ trong 01 (một) phong bì niêm phong ghi ký hiệu M6; 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng IPHONE, màu trắng thu giữ của Lê Thị Ngọc L có 03 (ba) chữ ký và 06 (sáu) hình dấu tròn đỏ trong 01 (một) phong bì niêm phong ghi ký hiệu M7; 01 (một) thẻ Căn cước công dân số 033199001984 do Cục C2 về TTXH cấp ngày 28/5/2021 cho Lê Thị Ngọc L.

Đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.

4. Án phí: Các bị cáo Nguyễn Hồng H1, Nguyễn Quốc B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1- TAND Tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người liên quan;
  • - Trại tạm giam- CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu VP, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự sơ thẩm (criminal first instance)

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Criminal First Instance)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 15/12/2023, tại thôn T, xã T, V, Hưng Yên, Nguyễn Quốc B có hành vi tàng trữ ma túy, cụ thể: 98,536g H, 12,410g Methamphetamine, 1,211g MDMA và 0,880g Ketamine. Ngoài ra, rạng sáng cùng ngày, B đã cung cấp ma túy đá, ma túy ngựa cho Lê Thị Ngọc L sử dụng trái phép. Trong các ngày 21/9/2023, 04/12/2023 và 09/12/2023, Nguyễn Hồng H1 đã 03 lần bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Quốc B; ngày 11/12/2023 H1 giao thêm lượng ma túy còn thiếu cho B. Khối lượng ma túy tương ứng với lượng ma túy mà B đang tàng trữ và một phần đã được sử dụng, tổng số tiền 03 lần giao dịch là 152.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger