Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/KDTM-PT

Ngày: 24/11/2025

V/v: “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ

thanh toán hợp đồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng; Bà Triệu Thị Luyện.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Giáp Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 41 /2025/TLPT - KDTM, ngày 15/10/2025 về việc “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ thanh toán hợp đồng”. Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2025/KDTM-ST ngày 07/5/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH Đ (sau đây gọi tắt là Công ty Đ); Địa chỉ: Đường L, phường V, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Vân X – Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Việt H, sinh năm 2003 (vắng mặt) và ông Vũ Quang A, sinh năm 2001 (có mặt); Cùng địa chỉ: Tầng A số C phố X, phường Y, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Văn C và ông Vũ Văn T – Luật sư, Công ty L thuộc Đoàn luật sư thành phố H (đều có mặt); Cùng địa chỉ: Tầng A số C phố X, phường Y, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Công ty TNHH S (sau đây gọi tắt là Công ty S); Địa chỉ: Lô B, B, B3, B6, B7 khu công nghiệp S - N, phường T, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Jun D – chức vụ: Tổng giám đốc (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Quang H1, sinh năm 1995 (có mặt) và bà Hoàng Thị Bích N (vắng mặt); Cùng địa chỉ: Khu Công nghiệp S, phường T, tỉnh Bắc Ninh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H2 - Luật sư; nơi làm việc: Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; Địa chỉ: SA G, chung cư D, đường H, phường B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

Người kháng cáo: Công ty TNHH S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 01/06/2021, Công ty Đ và Công ty S đã ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 0106/2021/HĐNT “Gọi tắt là Hợp đồng”. Theo đó các bên thỏa thuận, Công ty Đ cung cấp cho Công ty Seojin các sản phẩm linh kiện máy móc và dịch vụ sửa chữa máy móc, thiết bị.

Các báo giá mà Công ty Đ gửi cho Công ty S sẽ được xem như phụ lục hợp đồng căn cứ theo Điều 3 Hợp đồng: “Căn cứ theo Báo giá (bản scan hoặc fax) mà bên A gửi cho bên B, BBG này được xem như Phụ lục Hợp đồng”. Thời hạn của Hợp đồng được quy định tại khoản 7.3 Điều 7 Hợp đồng: “Hợp đồng này có thời hạn 05 năm kể từ ngày 01/6/2021 đến hết ngày 01/6/2026 và sẽ tự động gia hạn cho 01 năm và các năm tiếp theo đó. Trừ khi một trong hai bên gửi ý kiến bằng văn bản trong vòng 30 ngày trước ngày hết thời hạn ban đầu của hợp đồng thông báo cho bên kia biết về việc chấm dứt và không tiếp tục gia hạn hợp đồng”.

Về quy trình cung cấp, sử dụng hàng hóa nêu trên, các bên thỏa thuận: Khi Công ty S có nhu cầu thay thế linh kiện máy móc và dịch vụ sửa chữa máy móc, thiết bị thì Công ty Đ gửi Bảng báo giá (bản scan hoặc fax) cho đại diện của Công ty S xác nhận về số lượng, giá cả của hàng hóa, dịch vụ. Sau khi đại diện Công ty Đ thực hiện xong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo bảng báo giá, hai bên sẽ tiến hành ký Biên bản bàn giao và nghiệm thu thiết bị. Đồng thời chốt công nợ của từng tháng qua Zalo/email. Sau đó, Công ty Đ xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty S.

Kể từ ngày ký kết Hợp đồng ngày 01/6/2021 đến tháng 12/2023, một trong hai bên không có bất cứ văn bản ký kiến nào về việc chấm dứt và không tiếp tục hợp đồng khi hết thời hạn gia hạn. Theo đó, hai bên đã thống nhất với nhau về quy trình trao đổi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cụ thể như sau:

Tại giai đoạn gửi Bảng báo giá, sau khi nhận được yêu cầu từ phía Công ty Seojin qua gọi điện trực tiếp, Công ty Đ gửi Bảng báo giá qua Zalo cho Công ty S để xác nhận về đơn giá, số lượng đặt hàng. Khi Công ty S đồng ý xác nhận về giá cả, khối lượng theo Bảng báo giá của Công ty Đ gửi thì sẽ liên hệ xác nhận lại để tiến hành bàn giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ sửa chữa.

Tại giai đoạn bàn giao hàng hóa và nghiệm thu thiết bị, suốt quá trình từ khi ký hợp đồng đến khi thực hiện cung cấp dịch vụ tháng 12/2023, các bên đã đi đến thống nhất đối với cách thức bàn giao và nghiệm thu. Sau khi kĩ thuật viên của Công ty Đ thực hiện dịch vụ sửa chữa xong sẽ giao hàng đã sửa lại cho Công ty S, cả hai bên tiến hành cùng bàn giao, nghiệm thu hàng hóa tại xưởng của Công ty S. Được sự thống nhất của các bên, đại diện của hai Công ty tiến hành ký biên bản bàn giao, nghiệm thu cho từng lần cung cấp. Tại giai đoạn chốt công nợ và xuát hóa đơn giá trị gia tăng, đại diện Công ty Đ gửi bảng kê của từng tháng qua địa chỉ email DEBTVIETNAM@SEOJINJINSYS.CO.KRdo Công ty S cung cấp. Căn cứ Bảng báo giá, Biên bản bàn giao, nghiệm thu và Đơn đặt hàng, đại diện Seojin Việt Nam xác nhận lại bảng kê công nợ và báo bên ECN xuất hóa đơn.

Theo quy định tại Khoản 5.1 Điều 5 của Hợp đồng, Hai bên thỏa thuận: “Thanh toán trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhận được hàng hóa hoặc nghiệm thu dịch vụ và hóa đơn tài chính”. Đối với những lần cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ kể từ ngày bắt đầu ký kết hợp đồng 01/6/2021 đến ngày 27/8/2023, hai bên vẫn thực hiện đầy đủ, đúng với quy trình trao đổi, mua bán dịch vụ, hàng hóa theo cách thức đã thống nhất như ở trên. Sau khi hoàn thành xong các quá trình nghiệm thu, đại diện hai bên ký kết biên bản bàn giao và nghiệm thu thiết bị, Công ty Đ xuất hóa đơn giá trị gia tăng và Công ty S thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ số công nợ theo từng hóa đơn. (Kèm theo sổ chi tiết công nợ giữa Công ty TNHH Đ và Công ty TNHH S).

Tuy nhiên kể từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2023, Công ty S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán dù hai bên vẫn tiến hành các quy trình đã được thống nhất từ trước. Theo đó, đại diện của Công ty Đ và Công ty S đã tiến hành bàn giao, nghiệm thu cho 03 lần cung cấp, chi tiết như sau:

  1. Lần 1, ngày 22/8/2023, Công ty Đ gửi Bảng báo giá qua Zalo cho đại diện Công ty S và chốt số lượng, đơn giá đặt hàng, Công ty Đ tiến hành dịch vụ sửa chữa cho Công ty S. Sau khi hoàn thành việc sửa chữa, đại diện hai bên đã ký Biên bản về việc bàn giao và nghiệm thu thiết bị trong cùng ngày. Đến ngày 26/8/2023, hai bên đã xác nhận công nợ tháng 8/2023 qua email và đến ngày 28/8/2023, Công ty Đ đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng với tổng số tiền thanh toán là 9.072.000 đồng cho Công ty S.
  2. Lần 2, ngày 20/9/2023, Công ty Đ gửi Bảng báo giá qua Zalo cho đại diện Công ty S. Công ty S chốt số lượng, đơn giá đặt hàng, bên ECN tiến hành dịch vụ sửa chữa cho Công ty S. Sau khi hoàn thành việc sửa chữa, đại diện hai bên đã ký Biên bản về việc bàn giao và nghiệm thu thiết bị trong cùng ngày. Đến ngày 23/9/2023, hai bên đã xác nhận công nợ tháng 9/2023 qua email và trong cùng ngày, Công ty Đ đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng với tổng số tiền thanh toán là 40.068.000 đồng cho Công ty S.
  3. Lần 3, ngày 20/12/2023 Công ty Đ gửi Bảng báo giá qua Zalo cho đại diện Công ty S chốt số lượng, đơn giá đặt hàng, bên ECN tiến hành dịch vụ sửa chữa cho Công ty S. Sau khi hoàn thành việc sửa chữa, đại diện hai bên đã ký Biên bản về việc bàn giao và nghiệm thu thiết bị trong cùng ngày. Đến ngày 25/12/2023, hai bên đã xác nhận công nợ tháng 12/2023 qua email và trong cùng ngày, Công ty Đ đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng với tổng số tiền thanh toán là 18.144.000 đồng.

Trong những lần cung cấp dịch vụ này, dù Công ty Đ đã thực hiện theo đúng thỏa thuận, tiến hành nghiệm thu và xuất hóa đơn các đơn hàng tổng số tiền 67.284.000 đồng nhưng Công ty S vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Đ. Công ty Đ đã liên tục gửi các Thông báo nghĩa vụ trả nợ cho Công ty S, nhưng Công ty S vẫn tiếp tục cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo nội dung thông báo cũng như quy định của Hợp đồng và không đưa ra bất kỳ phản hồi chính thức nào.

Nay, Công ty Đ đề nghị: Buộc Công ty TNHH S thanh toán cho Công ty TNHH Đ các khoản bao gồm:

  1. Thanh toán số tiền nợ gốc là 67.284.000 đồng (Sáu mươi bảy triệu hai trăm tám mươi tư nghìn đồng Việt Nam).
  2. Thanh toán số tiền lãi trên số tiền chậm trả dựa trên mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự là 10%/năm. Thời điểm tính lãi trên số tiền chậm trả là ngày thứ 91 kể từ ngày Công ty Đ sau khi tiến hành bàn giao, nghiệm thu đã xuất Hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty S, Công ty S đã vi phạm hợp đồng về việc thanh toán, cụ thể như sau:
    • Đối với hóa đơn ngày 28/8/2023 số tiền 9.072.000 đồng, thời điểm tính lãi bắt đầu từ ngày 27/11/2023 đến nay là 595 ngày, số tiền lãi được tính là 1.478.860 đồng.
    • Đối với Hóa đơn ngày 23/9/2023 số tiền 40.068.000 đồng, thời điểm tính lãi bắt đầu từ ngày 23/12/2023 đến nay là 569 ngày, số tiền lãi được tính là 6.246.217 đồng.
    • Đối với Hóa đơn ngày 25/12/2023 số tiền 18.144.000 đồng, thời điểm tính lãi bắt đầu từ ngày 25/3/2024 đến nay là 476 ngày, số tiền lãi được tính là 2.366.176 đồng.

Tổng cộng tiền lãi là 10.091.254 đồng.

Phía bị đơn do đại diện Công ty S trình bày:

Ngày 01/6/2021, Công ty và Công ty Đ đã ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 0106/2021.HĐNT. Theo đó các bên thỏa thuận, Công ty Đ cung cấp cho Công ty Seojin các sản phẩm linh kiện máy móc và dịch vụ sửa chữa máy móc, thiết bị. Đồng ý với ý kiến của nguyên đơn về số tiền nợ gốc mà Công ty S đang còn nợ Công ty Đ là 67.284.000 đồng. Không nhất trí về phần lãi suất mà Công ty Đ xác định tính từ thời điểm tính vi phạm đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền với mức lãi suất 10%/năm.

Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 274; Điều 280 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 292 của Luật Thương mại; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ đối với Công ty TNHH S.
  • - Buộc Công ty TNHH S phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ số tiền gốc là 67.284.000 đồng (Bằng chữ: Sáu bảy triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) và số tiền lãi là 10.091.254 đồng (Mười triệu không trăm chín mốt nghìn, hai trăm năm tư đồng). Tổng cộng là 77.375.254 đồng (Bảy bảy triệu, ba trăm bảy năm nghìn, hai trăm năm tư đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 28/7/2025 bị đơn là Công ty TNHH S kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong phần tranh luận, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không tranh luận gì, đề nghị hội đồng giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH S, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 14/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh.

Về án phí phúc thẩm: Công ty TNHH S phải chịu án phí KDTM phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH S nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Bản án sơ thẩm xác định về quan hệ “tranh chấp thực hiện nghĩa vụ thanh toán hợp đồng” và thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 30, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

Ngày 01/6/2021 giữa Công ty TNHH Đ và Công ty TNHH S có ký kết hợp đồng nguyên tắc số 0106/2021/HĐNT về việc cung cấp linh kiện, dịch vụ sửa chữa máy móc. Theo đó các bên thỏa thuận về quy trình cung cấp, sử dụng hàng hóa nêu trên như sau: Khi Công ty Seojin có nhu cầu thay thế linh kiện máy móc và dịch vụ sửa chữa máy móc, thiết bị thì Công ty Đ gửi Bảng báo giá (bản scan hoặc fax) cho đại diện Công ty S để xác nhận số lượng, giá cả của hàng hóa, dịch vụ. Sau khi đại diện Công ty Đ thực hiện xong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo bảng báo giá, hai bên sẽ tiến hành ký Biên bản bàn giao và nghiệm thu thiết bị. Đồng thời chốt công nợ của từng tháng qua Zalo/email. Sau đó, Công ty Đ xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty S.

Đối với những lần cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ kể từ ngày bắt đầu ký kết hợp đồng 01/6/2021 đến ngày 27/8/2023, hai bên vẫn thực hiện đầy đủ, đúng với quy trình trao đổi, mua bán dịch vụ, hàng hóa tuy nhiên trong khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2023 Công ty S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán dù hai bên vẫn tiến hành các quy trình đã được thỏa thuận thống nhất từ trước. Mặc dù phía Công ty Đ đã xuất hóa đơn 03 lần với tổng giá trị là 67.284.000đ nhưng phía Công ty S vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Do đó Công ty Đ khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc Công ty TNHH S thanh toán cho Công ty TNHH Đ các khoản bao gồm:

  1. Thanh toán số tiền nợ gốc là 67.284.000 đồng (Sáu mươi bảy triệu hai trăm tám mươi tư nghìn đồng Việt Nam).
  2. Thanh toán số tiền lãi trên số tiền chậm trả dựa trên mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự là 10%/năm. Thời điểm tính lãi trên số tiền chậm trả là ngày thứ 91 kể từ ngày Công ty Đ sau khi tiến hành bàn giao, nghiệm thu đã xuất Hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty S, Công ty S đã vi phạm hợp đồng về việc thanh toán, cụ thể như sau:
    • Đối với hóa đơn ngày 28/8/2023 số tiền 9.072.000 đồng, thời điểm tính lãi bắt đầu từ ngày 27/11/2023 đến nay là 595 ngày, số tiền lãi được tính là 1.478.860 đồng.
    • Đối với Hóa đơn ngày 23/9/2023 số tiền 40.068.000 đồng, thời điểm tính lãi bắt đầu từ ngày 23/12/2023 đến nay là 569 ngày, số tiền lãi được tính là 6.246.217 đồng.
    • Đối với Hóa đơn ngày 25/12/2023 số tiền 18.144.000 đồng, thời điểm tính lãi bắt đầu từ ngày 25/3/2024 đến nay là 476 ngày, số tiền lãi được tính là 2.366.176 đồng.

Tổng cộng tiền lãi là 10.091.254 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử, bị đơn là Công ty TNHH S kháng cáo toàn bộ bản án.

Xét kháng cáo của Công ty TNHH S thấy:

Giữa Công ty Đ và Công ty S có ký kết hợp đồng 0106/2021/HĐNT ngày 01/6/2021 về việc cung cấp linh kiện, dịch vụ sửa chữa máy móc. Xét thấy khi ký kết các hợp đồng trên, hai bên đương sự có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các thỏa thuận trong hợp đồng đều do các bên trực tiếp tham gia ký kết trên cơ sở tự nguyện và đảm bảo đúng các quy định của pháp luật, hợp đồng đáp ứng đủ các điều kiện về nội dung và hình thức. Do vậy, hợp đồng có hiệu lực pháp luật buộc các bên phải tuân thủ theo đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận.

Căn cứ vào khoản 5.1 Điều 5 của hợp đồng, hai bên thỏa thuận: “Thanh toán trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhận được hàng hóa hoặc nghiệm thu dịch vụ và hóa đơn tài chính”. Trong quá trình thực hiện hợp đồng hai bên đã chốt công nợ với nhau qua email vào các ngày 28/8/2023; 23/9/2023; 25/12/2023 với tổng số tiền mà phía Công ty S phải thanh toán cho Công ty Đ là 67.284.000đ. Tuy nhiên kể từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2023 dù vẫn thực hiện các quy trình đúng quy định tại hợp đồng nguyên tắc mà hai bên đã ký kết và Công ty Đ đã xuất hóa đơn tổng giá trị là 67.284.000đ nhưng Công ty S vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Đ. Ngoài ra chính Công ty S cũng xác nhận khoản nợ gốc 67.284.000đ là đúng. Như vậy Công ty TNHH S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết.

Về yêu cầu thanh toán tiền lãi chậm trả: Công ty Đ đề nghị Công ty S thanh toán số tiền lãi trên số tiền chậm trả dựa trên mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của BLDS là 10%/năm là phù hợp.

Công ty TNHH S kháng cáo với lý do cần chờ kết quả giải quyết của vụ việc mà Công ty S đang tố cáo Công ty Đ có hành vi đưa và nhận hối lộ với ông Lê Tuấn A1 - nhân viên phụ trách việc sửa chữa trong Công ty và là người có liên quan trực tiếp đến các khoản công nợ đang tranh chấp trong vụ án này thì mới có căn cứ xác định chính xác số tiền nợ của Công ty S. Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật thương mại, Công ty S được quyền ngừng thanh toán khi có bằng chứng chứng minh bên bán lừa dối, tuy nhiên trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng Công ty S không cung cấp được chứng cứ nào chứng minh rằng Công ty Đ vi phạm nghĩa vụ cung ứng

hàng hóa hoặc có hành vi lừa dối cũng như phía Công ty Seojin không có bất kỳ một văn bản nào đề nghị ngừng thanh toán với Công ty Đ.

Đối với việc ông Lê Tuấn A1 - Trưởng bộ phận AS - đơn vị phụ trách sửa chữa máy móc thiết bị của Công ty S đang bị xác minh hành vi vi phạm pháp luật hình sự không phải là căn cứ để Công ty S ngừng thanh toán và xác định số tiền phải thanh toán. Vì theo quy định tại Điều 48 BLHS quy định về việc trả lại tài sản và quy định của BLDS về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì kết quả điều tra, xác minh sau này nếu có căn cứ xác định ông Tuấn A1 và phía Công ty Đ có hành vi gian dối chiếm đoạt tiền của Công ty S1 thì ông Tuấn A1 và những người có liên quan sẽ có nghĩa vụ trả lại tài sản cho Công ty Seojin theo quy định. Tại phiên tòa, Công ty S cung cấp Quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan CSĐT – Công an tỉnh B.

Từ những phân tích trên có thể thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ là có căn cứ. Công ty TNHH S là người kháng cáo nhưng trong giai đoan chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa Công ty Seojin không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ, do đó, cần bác toàn bộ kháng cáo của công ty TNHH S, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 14/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[3]. Về án phí: Do kháng cáo của Công ty TNHH S không được chấp nhận nên phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH S, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 14/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh.
  2. Về án phí phúc thẩm: Công ty TNHH S phải chịu 2.00.000đ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm nhưng được trừ số tiền 2.000.000đ tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo Biên lai thu số 0002948 ngày 05/8/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Bắc Ninh.
  3. Các quyết định khác của bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 14/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND khu vực 1 - Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 1 - Bắc Ninh;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ)
  • - Lưu hồ sơ; HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/KDTM-PT ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ thanh toán hợp đồng

  • Số bản án: 32/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ thanh toán hợp đồng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ thanh toán hợp đồng giữa Nguyên đơn: Công ty TNHH Điện tử Công nghiệp ECN ; Bị đơn: Công ty TNHH Seojin Việt Nam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger