Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 32/2025/HSST

Ngày 26/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ly
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Đình Dũng.
    2. Bà Lê Thị Hồng Trinh.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu H, Kiểm sát viên;

Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 166/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 479/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 259/2024/HSST-QĐ ngày 31/12/2024 đối với bị cáo: Trần Như T, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1996 tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Như T1 và bà Đặng Thị Minh T2; Vợ: Lê Thị Hồng T3; có 03 người con lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  2. Ông Phan Tấn T4, sinh năm 1974; địa chỉ: Số B đường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Phan Thị N, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn B, xã Q, thị xã Q (nay là tổ D, phường Q, thành phố Q), tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  2. Ông Trần T5, sinh năm 1974; địa chỉ: Số A đường P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  3. Bà Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1972, địa chỉ: Số A đường P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn T6, sinh năm 1945; địa chỉ: Tổ F, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  5. Bà Võ Thị Quỳnh L1, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ F, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  6. Bà Lê Thị Hồng T3, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
  7. Bà Trần Thị Khánh H1, sinh năm 1987; địa chỉ: Số A đường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong thời gian từ ngày 09/7/2024 và ngày 11/7/2024, bị cáo Trần Như T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Q, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 14 giờ ngày 09/7/2024, ông Phan Tấn T4 để xe mô tô biển kiểm soát: 76K2-8686 (có cắm sẵn chìa khóa trên xe và để giấy chứng nhận đăng ký xe trong cốp xe) tại trước cổng siêu thị C1 thuộc tổ C, phường N, thành phố Q. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T4 đi xe ôm đến siêu thị C1 mua thức ăn, rồi đi ra phía trước cổng siêu thị thì phát hiện xe mô tô 76K2-8686 đang cắm sẵn chìa khóa trên xe không ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp xe bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. T4 lén lút điều khiển xe đi về nhà nghỉ T7 (địa chỉ: Số A đường Đ, tổ F, phường N, thành phố Q) để cất giấu. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, ông Phan Tấn T4 đến trước cổng siêu thị C1 lấy xe thì phát hiện mất xe, sau đó, ông T4 đến Công an phường N sự việc. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/7/2024, T4 điều khiển xe mô tô trên đến tiệm sửa chữa xe máy “Thái Honda” của ông Trần T5 với mục đích bán xe lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tại đây, T4 gặp ông T5 và vợ là bà Huỳnh Thị Kim C, T4 đưa giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, biển kiểm soát 76K2-8686 cho ông T5 xem. Sau khi xem xe, ông T5 hỏi về nguồn gốc xe thì T4 nói dối là mua lại xe từ một người ở phường Q. Ông T5 nghe vậy và đồng ý mua lại xe mô tô trên với giá 1.200.000 đồng. Ngày 13/7/2024, ông biết được xe mô tô, biển kiểm soát: 76K2-8686 là xe trộm cắp nên đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q. Bị cáo sử dụng tiền bán xe tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ hai: Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 11/7/2024, Trần Như T đến Cửa hàng internet Xóm Mình ở địa chỉ số A đường L, tổ E, phường N, thành phố Q do bà Trần Thị Khánh H1 làm chủ để chơi game. Khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày, ông Nguyễn Tấn L điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 76E1-513.74 của ông L đến Cửa hàng Internet Xóm M chơi game và để xe tại khu vực sân. Đến 10 giờ cùng ngày, T nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của khách đến chơi game làm phương tiện đi làm. Nên khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, T đi ra khu vực để xe của Cửa hàng, phát hiện xe mô tô, biển kiểm soát 76E1-513.74 của ông L không có người trông coi nên lén lút dắt bộ xe đến bãi rửa xe gần nhà rồi đi bộ về nhà nghỉ T7. Tại đây, T nói cho vợ là Lê Thị Hồng T3 biết về việc trộm cắp xe và đang cất giấu tại bãi rửa xe gần nhà nghỉ T7; đồng thời, cả hai bàn bạc tìm chỗ cất giấu xe 76E1-513.74. Sau đó, T mượn xe mô tô, biển kiểm soát 76V7-2114 của chị Võ Thị Quỳnh L1 (quản lý nhà nghỉ T7), điều khiển xe 76V7-2114 chở T3 đến chỗ cất giấu xe 76E1-513.74. Sau đó, T3 điều khiển xe 76E1-513.74, T điều khiển xe 76V7-2114 đi phía sau đẩy xe 76E1-513.74 đi tìm chỗ cất giấu xe. Khi đến trước Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh Q (địa chỉ: B, phường N, thành phố Q) thấy nhà để xe không khóa cổng, T và T3 thống nhất dắt xe mô tô 76E1-513.74 cất giấu tại nhà để xe, rồi cả hai quay về nhà nghỉ T7. Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, ông L chơi game xong ra lấy xe đi về thì phát hiện xe bị mất nên đến Công an phường N trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận tố giác về tội phạm của ông L, Công an phường N tiến hành trích xuất camera an ninh của Cửa hàng internet Xóm M, xác định T trộm cắp xe mô tô của ông L và đến nhà nghỉ T7 mời T về trụ sở làm việc. Tại đây, T khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe mô tô và chỉ chỗ cất giấu xe 76E1-513.74 tại nhà để xe của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh Q.

Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTXTSTTHS ngày 18/7/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Q kết luận về tài sản định giá như sau: Giá trị của 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát: 76K2-8686, nhãn hiệu: Superma, màu sơn: Đỏ, số máy: 1316620, số khung: 317510 (Tài sản đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 09/7/2024 có giá trị là 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng); giá trị 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát: 76E1-513.74, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: Trắng - xanh, số máy: E3X9E611521, số khung: 3220KY124922 (Đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 11/7/2024 có trị giá là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Tổng giá trị tài sản bị can Trần Như T đã chiếm đoạt trong 02 vụ trộm nêu trên là: 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Cáo trạng số 151/CT-VKS-TPQN ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Trần Như T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Như T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi buộc bị cáo tự nguyện trả lại cho ông Trần T5 và bà Huỳnh Thị Kim C số tiền 1.200.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì Cơ quan điều tra đã làm việc, có lời khai trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã nhiều lần triệu tập những người này nhưng họ vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Trần Như T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 09/7/2024 đến ngày 11/7/2024, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu là ông Phan Tấn T4 và anh Nguyễn Tấn L trong quản lý tài sản, Trần Như T đã lén lút thực hiện 02 vụ trộm cắp xe mô tô với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 12.500.000 đồng. Hành vi của Trần Như T đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt là có căn cứ.

[4]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải, bị hại ông Phan Tấn T4 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Trần T5 và bà Huỳnh Thị Kim C xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự

[6]. Tính chất, mức độ của hành vi: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh và phòng chống tội phạm.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tự nguyện hoàn trả cho ông Trần T5 và bà Huỳnh Thị Kim C số tiền 1.200.000 đồng. Những bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, ý kiến gì về trách nhiệm dân sự.

[8]. Đối với bà Lê Thị Hồng T3: Sau khi T4 trộm cắp xe mô tô, biển kiểm soát: 76E1-513.74 của ông Nguyễn Tấn L, T4 khai T4 có nói cho T3 biết xe do bị cáo trộm cắp mà có, sau đó cả hai bàn bạc việc tìm chỗ cất giấu xe mô tô này tại nhà để xe của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã tiến hành triệu tập bà T3 làm việc nhưng bà T3 không có mặt tại địa phương, không xác định được nơi ở hiện tại của bà T3 nên không làm việc được với bà T3. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q chưa đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm đối với bà T3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q có trách nhiệm tiếp tục xác minh, làm rõ và đề nghị xử lý sau nếu có đủ căn cứ.

Đối với ông Trần T5 và bà Huỳnh Thị Kim C: Ông T5 và bà C không bàn bạc, thỏa thuận trước với T4 về việc trộm cắp xe 76K2-8686 của ông Phan Tấn T4 rồi bán lại cho ông T5 và bà C. Khi mua lại xe mô tô trên, ông T5 và bà C không biết đây là tài sản do T4 trộm cắp mà có. Do đó, hành vi của ông T5 và bà C không đồng phạm với T4 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự và không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.

[9]. Đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật ình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, khoản 3 Điều 27 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Trần Như T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Trần Như T 01 (một) năm (06) sáu tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Buộc bị cáo Trần Như T phải hoàn trả cho ông Trần T5 và bà Huỳnh Thị Kim C số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).

  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Như T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND TP Quảng Ngãi;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Chi cục THADS TP Quảng Ngãi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thúy Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HSST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 32/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Như T "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger