Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HSST

Ngày: 24/02/2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Dương - Chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi.
  2. Ông Nguyễn Văn Vân – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Trương Hoài Bảo – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17/02/2025 và ngày 24/02/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐST-HS ngày 13/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2025/QĐST-HS ngày 24/01/2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Mai Gia T; Tên gọi khác: không có.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 02/11/2021.

    Giới tính: N; Sinh năm: 2005; tại tỉnh Tây Ninh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số D đường G, ấp S, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi cư trú: số D đường G, ấp S, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Công nhân.

    Cha: Mai Đức T1, sinh năm: 1982; Mẹ: Lê Thị H, sinh năm: 1984.

    Anh, chị, em: 02 người (kể cả bị cáo).

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Phạm Tuấn D; Tên gọi khác: không có.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 13/01/2022.

    Giới tính: N; Sinh năm: 2006; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không.

    Cha: Phạm Văn B, sinh năm: 1968; Mẹ: Tô Thị B1, sinh năm: 1968.

    Anh, chị, em ruột: 02 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Phạm Nguyễn Cao M; Tên gọi khác: không có.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 02/11/2021.

    Giới tính: Nam; Sinh ngày 29/8/2007; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh.

    Cha: Phạm Văn V, sinh năm: 1971; Mẹ: Nguyễn Thị B2, sinh năm: 1980.

    Anh, chị, em ruột: 01 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam từ ngày 20/10/2024 đến ngày 13/11/2024 chuyển sang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phạm Nguyễn Cao M gồm:

    1/ Ông Phạm Văn V, sinh năm 1971; (vắng mặt)

    2/ Bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1980. (có mặt)

    Cùng địa chỉ: số C đường P, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Họ và tên: Võ Quốc D1; Tên gọi khác: không có.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 14/8/2022.

    Giới tính: Nam; Sinh ngày 17/5/2008; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số E đường P, ấp P, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi cư trú: số E đường P, ấp P, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê.

    Cha: Võ Văn D2, sinh năm: 1970; Mẹ: Lê Thị X, sinh năm: 1972.

    Anh, chị, em ruột: 01 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Võ Quốc D1 gồm:

    1/ Ông Võ Văn D2, sinh năm 1970; (có mặt)

    2/ Bà Lê Thị X, sinh năm 1972. (có mặt)

    Cùng địa chỉ: số E P, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Họ và tên: Huỳnh Chí H1; Tên gọi khác: Huỳnh H1.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 12/6/2021.

    Giới tính: N; Sinh năm: 2006; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số G đường N, ấp C, xã N, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi cứ trú: 770A/8 đường N, ấp C, xã N, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: không.

    Cha: Huỳnh Văn H2, sinh năm: 1979; Mẹ: Nguyễn Thị Nhân S, sinh năm: 1989.

    Anh, chị, em ruột: 01 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

  6. Họ và tên: Nguyễn Phạm Hoàng H3; Tên gọi khác: không có.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 30/11/2023.

    Giới tính: N; Sinh năm: 2006; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp B, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Học trường T16.

    Cha: Nguyễn Văn V1, sinh năm: 1973; Mẹ: Phạm Thị Ngọc V2, sinh năm: 1977.

    Anh, chị, em ruột: 02 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

  7. Họ và tên: Nguyễn Anh D3; Tên gọi khác: không có.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 09/4/2024.

    Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/5/2008; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp B, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh bổ túc.

    Cha: Nguyễn Văn S1, sinh năm: 1973; Mẹ: Đào Nguyên T2, sinh năm: 1985.

    Anh, chị, em ruột: 01 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Anh D3 gồm:

    1/ Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1973; (có mặt)

    2/ Bà Đào Nguyên T2, sinh năm 1985. (có mặt)

    Cùng địa chỉ: số E đường G, tổ A, ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  8. Họ và tên: Nguyễn Chí K; Tên gọi khác: Bin.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 03/8/2022.

    Giới tính: Nam; Sinh ngày 19/11/2007; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp C, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không.

    Cha: Nguyễn Chí T3, sinh năm: 1978; Mẹ: Tô Thị Ngọc Á, sinh năm: 1978.

    Anh, chị, em ruột: 01 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Chí K gồm:

    1/ Ông Nguyễn Chí T3, sinh năm 1978; (có mặt)

    2/ Bà Tô Thị Ngọc Á, sinh năm 1978. (có mặt)

    Cùng địa chỉ: số A đường T, ấp C, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  9. Họ và tên: Nguyễn Hoàng Gia H4; Tên gọi khác: không có.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 31/5/2021.

    Giới tính: Nam; Sinh ngày 13/12/2006; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp R, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Học trường T16.

    Cha: Nguyễn Thành V3, sinh năm: 1981; Mẹ: Hoàng Thị Y, sinh năm: 1986.

    Anh, chị, em ruột: 02 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoàng Gia H4 gồm:

    1/ Ông Nguyễn Thành V3, sinh năm 1981; (có mặt)

    2/ Bà Hoàng Thị Y, sinh năm 1986. (có mặt)

    Cùng địa chỉ: số I, đường G, ấp R, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  10. Họ và tên: Võ Quốc Kháng C; Tên gọi khác: không có.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 22/12/2021.

    Giới tính: N; Sinh năm: 2005; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số D đường Đ, ấp B, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: không.

    Cha: Võ Minh H5, sinh năm: 1985; Mẹ: Nguyễn Thị T4, sinh năm: 1985.

    Anh, chị, em ruột: 02 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

  11. Họ và tên: Đào Nhật B3; Tên gọi khác: Bảo Ti.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 06/5/2022.

    Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/4/2007; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không.

    Cha: Đào Văn Tu T5, sinh năm: 1973; Mẹ: Nguyễn Thị Mỹ C1, sinh năm: 1983.

    Anh, chị, em ruột: 02 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

    Người giám hộ của bị cáo Đào Nhật B3 là ông Đào Văn Minh N1, sinh năm: 2000. (có mặt)

    Địa chỉ: số D, đường T, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  12. Họ và tên: Võ Tấn A; T6 gọi khác: Em.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 08/5/2022.

    Giới tính: Nam; Sinh ngày 09/12/2007; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp B, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Công nhân.

    Cha: Võ Minh H5, sinh năm: 1985; Mẹ: Nguyễn Thị T4, sinh năm: 1985.

    Anh, chị, em ruột: 02 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Võ Tấn A gồm:

    1/ Ông Võ Minh H5, sinh năm 1985; (vắng mặt)

    2/ Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1985. (có mặt)

    Cùng địa chỉ: số D đường Đ, ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  13. Họ và tên: Phan Tấn L; Tên gọi khác: Đ.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 27/02/2021.

    Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/11/2006; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp R, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Công nhân.

    Cha: Phan Tấn T7, sinh năm: 1978; Mẹ: Vũ Thị D4, sinh năm: 1981.

    Anh, chị, em ruột: 02 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

    Người giám hộ của bị cáo Phan Tấn L là ông Phan Văn B4, sinh năm: 1951.

    Địa chỉ: C đường T, ấp R, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

  14. Họ và tên: Trang Thế K1; Tên gọi khác: không có.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 08/5/2022.

    Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/5/2007; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Học sinh.

    Cha: Trang Văn T8, sinh năm: 1972; Mẹ: Trần Thị Thúy H6, sinh năm: 1972.

    Anh, chị, em ruột: 02 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam từ ngày 20/10/2024 đến ngày 13/11/2024 chuyển sang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trang Thế K1 gồm:

    1/ Ông Trang Văn T8, sinh năm 1972; (vắng mặt)

    2/ Bà Trần Thị Thúy H6, sinh năm 1972; (có mặt)

    Cùng địa chỉ: số C, đường T, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  15. Họ và tên: Võ Thành D5; Tên gọi khác: không có.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 06/3/2023.

    Giới tính: N; Sinh năm: 2003; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp R, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không.

    Cha: Võ Văn C2 (đã chết); Mẹ: Trần Thị H7, sinh năm: 1977.

    Anh, chị, em ruột: 03 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

  16. Họ và tên: Tô Nguyễn Tuấn K2; Tên gọi khác: không có.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 19/12/2021.

    Giới tính: Nam; Sinh ngày 06/11/2006; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp B, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.

    Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không.

    Cha: Tô Thanh X1, sinh năm: 1979; Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc H8, sinh năm: 1987.

    Anh, chị, em ruột: 03 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Tô Nguyễn Tuấn K2 gồm:

    1/ Ông Tô Thanh X1, sinh năm 1979; (vắng mặt)

    2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc H8, sinh năm 1987; (có mặt)

    Cùng địa chỉ: số E, đường C, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  17. Họ và tên: Nguyễn Hoàng T9; Tên gọi khác: không có.

    Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 18/3/2023.

    Giới tính: Nam; Sinh ngày 09/11/2006; tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp V, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

    Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không.

    Cha: Nguyễn Văn T10, sinh năm: 1972; Mẹ: Bùi Thúy L1, sinh năm: 1980.

    Anh, chị, em ruột: 02 người (kể cả bị cáo)

    Vợ, con: Không

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/10/2024 đến nay.

    Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoàng T9 gồm:

    1/ Ông Nguyễn Văn T10, sinh năm 1972; (có mặt)

    2/ Bà Bùi Thúy L1, sinh năm 1980; (vắng mặt)

    Cùng địa chỉ: số C đường G, ấp V, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Chánh Đ1, sinh năm: 2001 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: số C, đường G, ấp V, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Võ Thế N2, sinh năm: 1958; (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: số D đường Đ, ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1980; (có mặt)
  6. Địa chỉ: số C đường P, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 16/8/2024, Mai Gia T cùng Phạm Tuấn D có nhậu cùng nhóm bạn tại ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong lúc ngồi nhậu, bạn của Mai Gia T là B3 (chưa rõ lai lịch) có nói với Mai Gia T là đang thiếu nợ Huỳnh Trần Khánh D6 số tiền 1.200.000 đồng. Nghe vậy, Mai Gia T nói với B3 là Huỳnh Trần Khánh D6 đang thiếu nợ Mai Gia T số tiền 3.000.000 đồng. Mai Gia T kêu B3 nói Huỳnh Trần Khánh D6 đến để Mai Gia T lấy tiền và trừ vào số tiền B3 đang nợ Huỳnh Trần Khánh D6. B3 liên hệ Huỳnh Trần Khánh D6 đến và hẹn tại đầu đường C và đường P thuộc ấp P, xã P, huyện C (gần nhà của Phạm Tuấn D) để trả nợ. Sau đó, Huỳnh Trần Khánh D6 không đi mà nhờ Võ Quốc D1 điều khiển xe mô tô biển số 53R9-1027 đến điểm hẹn, Mai Gia T điều khiển xe mô tô biển số 59DB-021.97 ra gặp nhưng chỉ thấy Võ Quốc D1 nên Mai Gia T hỏi Võ Quốc D1 “Khánh Duy đâu?”, Võ Quốc D1 trả lời không biết và nói Khánh D6 nhờ đi lấy tiền dùm. Mai Gia T nghe vậy có dùng tay đánh vào vai Võ Quốc D1 một cái và đuổi Võ Quốc D1 về, sau đó Mai Gia T chạy về nhà mình tắm, thay đồ để đến nhà Phạm Tuấn D ngủ sáng đi làm.

Sau đó, Võ Quốc D1 về đến nhà và điện thoại cho Võ Quốc Kháng C và Nguyễn Hoàng Thiện V4 (Sinh ngày 02/9/2010) biết việc vừa mới bị Mai Gia T đánh, Võ Quốc D1 nhờ Võ Quốc Kháng C kéo người đi tìm Mai Gia T đánh trả thù. Võ Quốc Kháng C đồng ý và kéo nhóm gồm: Võ Tấn A, Nguyễn Hoàng T9, Nguyễn Hoàng Gia H4, Huỳnh Chí H1, Nguyễn Hoàng Thiện V4, Phạm Phương D7 (Sinh ngày 26/3/2010), Trịnh Đạt P (Sinh ngày 11/11/2009), Trịnh Đỗ Anh K3 (Sinh ngày 27/5/2009), Võ Anh T11 (Sinh ngày 15/3/2009) cùng đến nhà Võ Quốc D1. Khi đến khu vực ấp B, xã A, huyện C, Huỳnh Chí H1 rủ thêm Nguyễn Anh D3, Nguyễn Chí K, Hồ Lê An T12 (Sinh ngày 08/12/2008). Khi đến nhà Võ Quốc D1, Võ Quốc Kháng C chở Võ Quốc D1 tiếp tục kéo nhóm cùng đi tìm Mai Gia T đánh trả thù. Khi nhóm Võ Quốc D1 đến đầu đường hẻm nhà Phạm Tuấn D tại ấp P, xã P, huyện C thì thấy Mai Gia T điều khiển xe mô tô biển số 59DB-021.97 chạy đến gặp nhóm của Võ Quốc D1. Thấy nhóm Võ Quốc D1 đông người nên Mai Gia T chạy vào nhà báo cho Phạm Tuấn D biết nhóm Võ Quốc D1 kéo đến. Nghe vậy, Phạm Tuấn D đưa cho Mai Gia T 01 cây rựa, còn Phạm Tuấn D cầm 02 con dao lên xe để Mai Gia T chở ra ngoài đầu đường P. Thấy Mai Gia T chạy xe chở Phạm Tuấn D ra nên nhóm Võ Quốc D1 đuổi theo sau. Mai Gia T thấy bị truy đuổi phía sau nên dừng xe lại để cho Phạm Tuấn D xuống xe dùng 02 con dao ném vào nhóm Võ Quốc D1. Thấy bị ném dao nên nhóm Võ Quốc D1 bỏ chạy, sau đó tập hợp tại nhà của Đào Nhật B3 số 485 đường T, ấp Đ, xã T, huyện C.

Mai Gia T điện thoại cho Phạm Nguyễn Cao M lấy xe mô tô biển số 59Y3-871.96 đến chở Mai Gia T và Phạm Tuấn D đi tìm nhóm Võ Quốc D1 để đánh nhau, Phạm Tuấn D nhặt lại 01 con dao cùng Mai Gia T cầm 01 cây rựa rồi lên xe do Phạm Nguyễn Cao M chở 03 đi đến nhà Đào Nhật B3, khi đến trước sân nhà Đào Nhật B3 thì Phạm Tuấn D và Mai Gia T cầm hung khí xông vào nhà tìm Võ Quốc D1, nhóm Võ Quốc D1 thấy vậy nên bỏ chạy ra khu vực phía sau nhà. Đào Nhật B3 đi ra nói không có nhóm của Võ Quốc D1 tại đây nên Phạm Nguyễn Cao M điều khiển xe chở Mai Gia T và Phạm Tuấn D đi về.

Lúc này, tại nhà của Đào Nhật B3, Huỳnh Chí H1 bàn bạc sẽ rủ thêm người, tập hợp tìm hung khí kéo đi tìm nhóm Mai Gia T đánh trả thù. Huỳnh Chí H1 điện thoại cho Nguyễn Phạm Hoàng H3 kêu lấy hung khí đến nhà Đào Nhật B3 để đánh nhau. Đồng thời, Huỳnh Chí H1 kêu Nguyễn Anh D3 và Võ Tấn A sử dụng xe mô tô biển số 12K1-5049 đi đến nhà tại ấp B, xã T, huyện C chở Nguyễn Phạm Hoàng H3. Khi đến nơi, Nguyễn Phạm Hoàng H3 kêu Nguyễn Anh D3 chạy xe đến khu vực bên hông nhà thờ T17, huyện C để lấy hung khí mà trước đó bạn của Nguyễn Phạm Hoàng H3 đã cất giấu tại khu vực này, lấy được hung khí Nguyễn Anh D3 chở Võ Tấn A và Nguyễn Phạm Hoàng H3 đến nhà Đào Nhật B3.

Tiếp theo, Huỳnh Chí H1 gọi điện thoại rủ Phạm Huỳnh Nhật T13 đến nhà Đào Nhật B3 để giúp đi đánh nhau, Phạm Huỳnh Nhật T13 đồng ý và rủ thêm Trang Thế K1, Tô Nguyễn Tuấn K2 và Nguyễn Lê Đăng K4. Phạm Huỳnh Nhật T13 điều khiển xe mô tô (chưa rõ biển số) chở Trang Thế K1, Nguyễn Lê Đăng K4 điều khiển xe mô tô biển số 54Y4-0357 chở Tô Nguyễn Tuấn K2 cùng nhau đến nhà Đào Nhật B3. Huỳnh Chí H1 điều khiển xe mô tô biển số 59P1-073.37 đến nhà Phan Tấn L thì gặp L và Võ Thành D5, Huỳnh Chí H1 hỏi có hung khí không, cả hai nói không có hung khí và hỏi Huỳnh Chí H1 có chuyện gì, Huỳnh Chí H1 nói đi đánh nhau với nhóm Mai Gia T trên xã P, huyện C. Nghe vậy, Võ Thành D5 sử dụng xe mô tô biển số 72G1-215.06 chở Phan Tấn L đến nhà Đào Nhật B3.

Khi tụ tập tại nhà Đào Nhật B3, Nguyễn Phạm Hoàng H3 mang hung khí đến gồm: rựa và dao tự chế, Phạm Phương D7 đem 01 kết vỏ chai bia. Lúc này khoảng 01 giờ 30 phút ngày 17/8/2024, Huỳnh Chí H1 thông báo bắt đầu di chuyển đến khu vực sân banh ấp P, đường P, xã P, huyện C để tìm nhóm Mai Gia T đánh trả thù. Khi xuất phát đi từ nhà Đào Nhật B3: Võ Thành D5 điều khiển xe mô tô biển số 72G1-215.06 chở Phan Tấn L ngồi giữa, Nguyễn Hoàng Thiện V4 ngồi sau cùng cầm dao tự chế; Nguyễn Hoàng T9 điều khiển xe mô tô biển số 59Y3-523.68 chở Nguyễn Hoàng Gia H4 ngồi giữa cầm ống sắt tròn, Huỳnh Chí H1 ngồi sau cùng cầm dao tự chế; Nguyễn Phạm Hoàng H3 điều khiển xe mô tô biển số 84K1-351.17 của Võ Anh T11 (Sinh ngày 15/3/2009) chở Trịnh Đỗ Anh K3 ngồi giữa cầm 02 võ chai bia, Hồ Lê An T12 ngồi sau cùng cầm dao tự chế; Võ Tấn A điều khiển xe mô tô biển số 59P1-073.37 chở Phạm Phương D7 ngồi sau cầm dao tự chế; Nguyễn Lê Đăng K4 điều khiển xe mô tô biển số 54Y4-0357 chở Tô Nguyễn Tuấn K2 ngồi sau; Trang Thế K1 điều khiển xe mô tô (chưa rõ biền số) chở Phạm Huỳnh Nhật T13 ngồi sau cầm dao tự chế; Võ Quốc D1 điều khiển xe mô tô chở Trịnh Đạt P ngồi sau cầm dao tự chế; Võ Quốc Kháng C điều khiển xe mô tô biển số 53Y5-2579 chở Đào Nhật B3 ngồi sau cầm 02 vỏ chai bia; Nguyễn Anh D3 điều khiển xe mô tô biển số 12K1-5409 chở Nguyễn Chí K ngồi sau cầm rựa tự chế. Sau đó cả nhóm từ nhà Đào Nhật B3 điều khiển xe mô tô, người ngồi sau cầm hung khí, vỏ chai bia chạy đến khu vực sân banh thuộc ấp P, cả nhóm chạy nhiều vòng qua lại trên đường P, quẹo vào đường C đến trước nhà Phạm Tuấn D nhưng không tìm thấy nhóm Mai Gia T, Phạm Tuấn D và Phạm Nguyễn Cao M nên cả nhóm kéo nhau về lại nhà Đào Nhật B3 để cất giấu hung khí. Đến sáng ngày 17/8/2024, Công an xã T, huyện C tiếp nhận nguồn tin từ người dân nên tiến hành tiếp nhận, xác minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành xác minh và qua làm việc các bị can đều thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Ngày 10/9/2024, Ủy ban nhân dân xã T, huyện C có Công văn số 2171/UBND xác định như sau:

Vị trí xảy ra vụ việc tại số nhà D đường T, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và đoạn đường T (từ nhà số D đường T đến ngã ba đường T - đường P) là khu đông dân cư sinh sống, buôn bán. Vụ việc trên đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Ngày 11/9/2024, Ủy ban nhân dân xã P, huyện C có Công văn số 1317/UBND xác định như sau:

Vị trí đường P ngay ngã ba đường P - đường P là khu vực dân cư, khu vực công cộng, tập trung nhiều nhà dân sinh sống và các hộ kinh doanh buôn bán. Vụ việc gây ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh trật tự tại địa bàn xã và dư luận trong nhân dân tại địa bàn.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 03 ống tròn phi 21, có lưỡi bầu bằng kim loại, chiều dài 2,2 mét, lưỡi dài 20 cm, bản rộng nhất dài 06 cm;
  • - 01 dao tự chế bằng kim loại có chiều dài 47 cm, bản rộng lưỡi dao dài 06 cm, cán bằng gỗ dài 14 cm;
  • - 01 dao tự chế bằng kim loại có chiều dài 40 cm, bản rộng lưỡi dao dài 06 cm, cán bằng kim loại dài 10 cm;
  • - 01 dao tự chế bằng kim loại dài 124 cm, cán tròn phi 21, lưỡi dao bản rộng 06 cm, chiều dài lưỡi dao 30 cm;
  • - 01 rựa bằng kim loại có chiều dài 100 cm, lưỡi dài 30 cm, bản rộng lưỡi dài 05 cm;
  • - 01 dao tự chế bằng kim loại 95 cm, cán tròn phi 21, lưỡi dao dài 35 cm, bản rộng lưỡi dao dài 07 cm;
  • - 01 ống sắt tròn phi 27, dài 2,15 mét;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, số Imei 1: 350320740398894, số Imei 2: 350320740435613;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, số Imei 1: 357234090200241, số Imei 2: 357234090089149;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu hồng, số Imei 1: 356323453795656, số Imei 2: 356323453393577;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh, số Imei 1: 351075969280152, số Imei 2: 351075969074035;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu trắng, số Imei: 352848114226075, có sim số 0931930714;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đỏ, số Imei: 355355084857449, có sim số 0989790762;
  • - 01 xe mô tô hiệu Fantom, biển số 12K1-5049, số khung HUUM5X005582, số máy 52FMHT005582 là phương tiện Nguyễn Anh D3 sử dụng thực hiện tội phạm;
  • - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 72G1-215.06, số khung 10DY316527, số máy 55P1316535 là phương tiện Võ Thành D5 sử dụng thực hiện tội phạm;
  • - 01 xe mô tô hiệu Drin, biển số 53R9-1027, số khung 013DR000497, số máy FMG330001522 là phương tiện Võ Quốc D1 sử dụng thực hiện tội phạm;
  • - 01 xe mô tô hiệu Kymco, biển số 59DB-021.97, số khung PYGA001819, số máy 100004023 là phương tiện Mai Gia T sử dụng thực hiện tội phạm;
  • - 01 xe mô tô hiệu Suzuki Raider, biển số 59Y3-523.68, số khung NLV135646, số máy CGA1535834 là phương tiện Nguyễn Hoàng T9 sử dụng thực hiện tội phạm;
  • - 01 xe mô tô hiệu Hadosiva, biển số 53Y5-2579, số khung DYC795568, số máy 100E1913734 là phương tiện Võ Quốc Kháng C sử dụng thực hiện tội phạm;
  • - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 84K1-351.17, số khung KY227848, số máy X9E615704 là phương tiện Võ Anh T11 sử dụng thực hiện tội phạm;
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 59Y3-871.96, số khung 0343PY047113, số máy 0760556 là phương tiện Phạm Nguyễn Cao M sử dụng thực hiện tội phạm;
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda, biển số 54Y4-0357, số khung 9097Y-602484, số máy C09E-5702388 là phương tiện Nguyễn Lê Đăng K4 sử dụng thực hiện tội phạm. Ngày 16/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là bà Lê Thị T14.

Vật chứng được nhập kho tại Đội Cảnh sát thi hành án hình sự - Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi như đã nêu trong cáo trạng.

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị cáo Mai Gia T, Phạm Tuấn D, Phạm Nguyễn Cao M, Võ Quốc D1, Huỳnh Chí H1, Nguyễn Phạm Hoàng H3, Nguyễn Anh D3, Nguyễn Chí K, Nguyễn Hoàng Gia H4, Võ Quốc Kháng C, Đào Nhật B3, Võ Tấn A, Phan Tấn L, Trang Thế K1, Võ Thành D5, Tô Nguyễn Tuấn K2, Nguyễn Hoàng T9 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ; Cụ thể: Do có mâu thuẫn với Võ Quốc D1 nên vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 16/8/2024, Mai Gia T rủ Phạm Tuấn D, Phạm Nguyễn Cao M sử dụng xe mô tô chở nhau cầm hung khí gồm dao tự chế và rựa lưu thông từ ấp P, xã P đến ấp Đ, xã T, huyện C để tìm và đánh nhau với nhóm của Võ Quốc D1. Tiếp đến vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 17/8/2024, Võ Quốc D1, Võ Quốc Kháng C, Huỳnh Chí H1 rủ nhau và tập hợp nhóm người gồm: Nguyễn Phạm Hoàng H3, Nguyễn Anh D3, Nguyễn Chí K, Nguyễn Hoàng Gia H4, Đào Nhật B3, Võ Tấn A, Phan Tấn L, Trang Thế K1, Võ Thành D5, Tô Nguyễn Tuấn K2, Nguyễn Hoàng T9, Nguyễn Lê Đăng K4, Phạm Huỳnh Nhật T13, Nguyễn Hoàng Thiện V4 (Sinh ngày 02/9/2010), Phạm Phương D7 (Sinh ngày 26/3/2010), Trịnh Đạt P (Sinh ngày 11/11/2009), Trịnh Đỗ Anh K3 (Sinh ngày 27/5/2009), Hồ Lê An T12 (Sinh ngày 08/12/2008), Võ Anh T11 (Sinh ngày 15/3/2009) sử dụng xe mô tô chở nhau cầm hung khí gồm dao tự chế, vỏ chai bia lưu thông từ ấp Đ, xã T Thượng đến khu vực sân banh thuộc ấp P, xã P, huyện C để tìm và đánh nhau với nhóm của T. Hành vi nêu trên gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa bàn xã T và xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mai Gia T, Phạm Tuấn D, Phạm Nguyễn Cao M, Võ Quốc D1, Huỳnh Chí H1, Nguyễn Phạm Hoàng H3, Nguyễn Anh D3, Nguyễn Chí K, Nguyễn Hoàng Gia H4, Võ Quốc Kháng C, Đào Nhật B3, Võ Tấn A, Phan Tấn L, Trang Thế K1, Võ Thành D5, Tô Nguyễn Tuấn K2, Nguyễn Hoàng T9 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ tham gia, vai trò của các bị cáo:

Sự việc xảy ra xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà các bị cáo tụ tập rủ rê chém nhau. Bị cáo Mai Gia T là người rủ bị cáo Phạm Nguyễn Cao M; Bị cáo Võ Quốc D1 là người rủ bị cáo Võ Quốc Kháng C và Nguyễn Hoàng Thiện V4 (sinh ngày 02/9/2010); Bị cáo Võ Quốc Kháng C là người rủ các bị cáo Huỳnh Chí H1, Võ Tấn A, Nguyễn Hoàng T9, Nguyễn Hoàng Gia H4 và Phạm Phương D7 (sinh ngày 26/3/2010), Trịnh Đạt P (sinh ngày 11/11/2009), Trinh Đỗ Anh K3 (sinh ngày 27/5/2009), Võ Anh T11 (sinh ngày 15/3/2009); Bị cáo Huỳnh Chí H1 là người rủ các bị cáo Nguyễn Anh D3, Nguyễn Chí K, Nguyễn Phạm Hoàng H3, Võ Tấn A, Phạm Huỳnh Nhật T13, Trang Thế K1, Tô Nguyễn Tuấn K2, Phan Tấn L, Võ Thành D5 và Hồ Lê An T12 (sinh ngày 08/12/2008) các bị cáo đã đồng ý, các bị cáo là đồng phạm giúp sức, nhưng không có sự phân công nhiệm vụ nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Các bị cáo thực hiện hành vi sử dụng hung khí là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thô sơ để tụ tập, di chuyển trên địa bàn xã T Thượng và xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh điều khiển xe máy chạy trên đường qua nhiều khu dân cư, nhiều nhà dân sinh sống làm ảnh hưởng an ninh trật tự tại nhiều địa phương gây hoang mang đời sống người dân. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm nếp sống văn minh của xã hội, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo đã thực hiện mới đủ tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình, cần xem xét đến nhân thân, những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  1. Đối với bị cáo Mai Gia T:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  2. Đối với bị cáo Phạm Tuấn D:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu, bị cáo có bà nội là Liệt sĩ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  3. Đối với bị cáo Phạm Nguyễn Cao M:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt và đang là học sinh của T13 trung học phổ thông Chiến Thắng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  4. Đối với bị cáo Võ Quốc D1:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, ông ngoại là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  5. Đối với bị cáo Huỳnh Chí H1:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  6. Đối với bị cáo Nguyễn Phạm Hoàng H3:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt và là sinh viên Trường T16, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  7. Đối với bị cáo Nguyễn Anh D3:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt và có ông nội là Liệt sĩ, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  8. Đối với bị cáo Nguyễn Chí K:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, bà nội là người có công với cách mạng, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  9. Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Gia H4:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, là sinh viên Trường T16 và có bà nội là người có công với cách mạng, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  10. Đối với bị cáo Võ Quốc Kháng C:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, có bà là người có công với cách mạng, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  11. Đối với bị cáo Đào Nhật B3:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  12. Đối với bị cáo Võ Tấn A:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, có bà là người có công với cách mạng, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  13. Đối với bị cáo Phan Tấn L:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, ông nội là người có công với cách mạng, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  14. Đối với bị cáo Trang Thế K1:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt và đang là học sinh của Trường trung học phổ thông A2, huyện C nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  15. Đối với bị cáo Võ Thành D5:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội lần đầu, bị cáo mới hoàn thành nghĩa vụ quân sự về, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  16. Đối với bị cáo Tô Nguyễn Tuấn K2:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  17. Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T9:

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, là gia đình Liệt sĩ, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo Võ Quốc D1 mặc dù bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhưng bị cáo Võ Quốc D1 và các bị cáo Mai Gia T, Huỳnh Chí H1, Võ Quốc Kháng C có tính chất cầm đầu, rủ rê, xúi dục người khác phạm tội, do đó Hội đồng xét xử cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục các bị cáo trở thành người tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với các bị cáo Phạm Tuấn D, Nguyễn Phạm Hoàng H3, Nguyễn Anh D3, Nguyễn Chí K, Nguyễn Hoàng Gia H4, Đào Nhật B3, Võ Tấn A, Võ Tấn L2, Võ Thành D5, Tô Nguyễn Tuấn K2, Nguyễn Hoàng T9 trong vụ án, các bị cáo là đồng phạm giản đơn, xét tính chất mức độ, vai trò của các bị cáo không đáng kể. Hơn nữa các bị cáo đã bị tạm giam trong thời gian dài cũng đủ răn đe; Các bị cáo có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này các bị cáo chưa từng bị xét xử về tội phạm nào khác. Nhằm đề cao chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, nhằm tạo cơ hội cho các bị cáo sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 03 ống tròn phi 21, có lưỡi bầu bằng kim loại, chiều dài 2,2 mét, lưỡi dài 20 cm, bản rộng nhất dài 06 cm; 01 dao tự chế bằng kim loại có chiều dài 47 cm, bản rộng lưỡi dao dài 06 cm, cán bằng gỗ dài 14 cm; 01 dao tự chế bằng kim loại có chiều dài 40 cm, bản rộng lưỡi dao dài 06 cm, cán bằng kim loại dài 10 cm; 01 dao tự chế bằng kim loại dài 124 cm, cán tròn phi 21, lưỡi dao bản rộng 06 cm, chiều dài lưỡi dao 30 cm; 01 rựa bằng kim loại có chiều dài 100 cm, lưỡi dài 30 cm, bản rộng lưỡi dài 05 cm; 01 dao tự chế bằng kim loại 95 cm, cán tròn phi 21, lưỡi dao dài 35 cm, bản rộng lưỡi dao dài 07 cm; 01 ống sắt tròn phi 27, dài 2,15 mét; Là vật chứng, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, số Imei 1: 350320740398894, số Imei 2: 350320740435613, thu giữ của bị cáo Phạm Tuấn D, điện thoại này bị cáo Tuấn D cho bị cáo T mượn dùng để điện thoại kêu bị cáo Phạm Nguyễn Cao M đến chở bị cáo Tuấn D và bị cáo T đi tìm nhóm của bị cáo Võ Quốc D1; Là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước là có cơ sở.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, số Imei 1: 357234090200241, số Imei 2: 357234090089149, thu giữ của bị cáo B3; Điện thoại này không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hoàn trả lại cho bị cáo B3 là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu hồng, số Imei 1: 356323453795656, số Imei 2: 356323453393577, thu giữ của bị cáo Võ Tấn A; Là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước là có cơ sở.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh, số Imei 1: 351075969280152, số Imei 2: 351075969074035, thu giữ bị cáo Võ Anh T11; Là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu trắng, số Imei: 352848114226075, có sim số 0931930714, thu giữ của bị cáo K2; Là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đỏ, số Imei: 355355084857449, có sim số 0989790762, thu giữ của bị cáo Phạm Nguyễn Cao M; Là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Fantom, biển số 12K1-5049, số khung HUUM5X005582, số máy 52FMHT005582 là phương tiện Nguyễn Anh D3 sử dụng thực hiện tội phạm; Chủ sở hữu xe là ông Hoàng Văn H9, sinh năm: 1986; địa chỉ: Làng H, Q, C, Lạng Sơn và đã bán xe này cho người khác (ông Dương Văn G, sinh năm: 1974; địa chỉ: thôn T, xã L, huyện C, Lạng Sơn), khi bán không làm thủ tục sang tên và ông G đã chết năm 2011; Là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục truy tìm chủ sở hữu, nếu hết thời hạn truy tìm mà không có ai đến nhận thì tịch thu sung Công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 72G1-215.06, số khung 10DY316527, số máy 55P1316535 là phương tiện Võ Thành D5 sử dụng thực hiện tội phạm; Chủ sở hữu xe là ông Trần V5, sinh năm: 1989, địa chỉ: ấp P, H, X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ông V5 không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì không rõ. Là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục truy tìm chủ sở hữu, nếu hết thời hạn truy tìm mà không có ai đến nhận thì tịch thu sung Công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Drin, biển số 53R9-1027, số khung 013DR000497, số máy FMG330001522 là phương tiện Võ Quốc D1 sử dụng thực hiện tội phạm; Chủ sở hữu xe là ông Trần Minh N3; địa chỉ: G P, phường G, quận P, thành phố Hồ Chí Minh, ông N3 không thực tế cư trú tại địa chỉ trên, đi đâu, làm gì không rõ. Là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục truy tìm chủ sở hữu, nếu hết thời hạn truy tìm mà không có ai đến nhận thì tịch thu sung Công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Kymco, biển số 59DB-021.97, số khung PYGA001819, số máy 100004023 là phương tiện Mai Gia T sử dụng thực hiện tội phạm; Chủ sở hữu xe là bà Lê Nguyễn Phương A1; địa chỉ: D T, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh, bà đã bán xe này cho Trần Ngọc Thiên T15; địa chỉ: A B, phường F, quận D, thành phố Hồ Chí Minh, khi bán không làm thủ tục sang tên; Bà T15 không còn cư trú tại địa chỉ trên, đi đâu, làm gì không rõ; Là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục truy tìm chủ sở hữu, nếu hết thời hạn truy tìm mà không có ai đến nhận thì tịch thu sung Công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki Raider, biển số 59Y3-523.68, số khung NLV135646, số máy CGA1535834 là phương tiện Nguyễn Hoàng T9 sử dụng thực hiện tội phạm; Chủ sở hữu xe là ông Nguyễn Chánh Đ1, là anh của bị cáo Nguyễn Hoàng T9; Ông Đ1 không biết bị cáo T9 sử dụng xe này để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hoàn trả lại chiếc xe này lại cho ông Đ1 là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Hadosiva, biển số 53Y5-2579, số khung DYC795568, số máy 100E1913734 là phương tiện Võ Quốc Kháng C sử dụng thực hiện tội phạm; Chủ sở hữu xe là Võ Thế N2, sinh năm: 1958; địa chỉ: số D đường Đ, ấp B, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Ông N2 không biết bị cáo C sử dụng xe này để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hoàn trả lại chiếc xe này lại cho ông N2 là có cơ sở.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 84K1-351.17, số khung KY227848, số máy X9E615704 là phương tiện Võ Anh T11 sử dụng thực hiện tội phạm; Chủ sở hữu là bà Thạch Thị P1, chiếc xe này bà P1 cho con là Thạch Minh Q đi làm và Q đã bán xe này cho tiệm cầm đồ, khi bán không làm thủ tục sang tên. Là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục truy tìm chủ sở hữu, nếu hết thời hạn truy tìm mà không có ai đến nhận thì tịch thu sung Công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 59Y3-871.96, số khung 0343PY047113, số máy 0760556 là phương tiện Phạm Nguyễn Cao M sử dụng thực hiện tội phạm; Chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị B2, là mẹ của bị cáo Phạm Nguyễn Cao M. Bà B2 không biết bị cáo M sử dụng xe này để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hoàn trả lại chiếc xe này lại cho bà B2 là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda, biển số 54Y4-0357, số khung 9097Y-602484, số máy C09E-5702388 là phương tiện Nguyễn Lê Đăng K4 sử dụng thực hiện tội phạm. Ngày 16/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là bà Lê Thị T14. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo Mai Gia T, Phạm Tuấn D, Phạm Nguyễn Cao M, Võ Quốc D1, Huỳnh Chí H1, Nguyễn Phạm Hoàng H3, Nguyễn Anh D3, Nguyễn Chí K, Nguyễn Hoàng Gia H4, Võ Quốc Kháng C, Đào Nhật B3, Võ Tấn A, Phan Tấn L, Trang Thế K1, Võ Thành D5, Tô Nguyễn Tuấn K2, Nguyễn Hoàng T9 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 của N4; Xử lý vật chứng như nhận định nêu trên, xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

[6] Đối với Nguyễn Lê Đăng K4 bị tai nạn giao thông đã chết vào ngày 29/9/2024 nên không xem xét trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

[7] Đối với Phạm Huỳnh Nhật T13, quá trình điều tra đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự và ra quyết định truy nã. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp, khi nào bắt được xử lý sau.

[8] Đối với Nguyễn Hoàng Thiện V4, Phạm Phương D7, Trịnh Đạt P, Trịnh Đỗ Anh K3, Hồ Lê An T12, Võ Anh T11 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chuyển hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

[9] Án phí hình sự sơ thẩm:

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Mai Gia T, Phạm Tuấn D, Phạm Nguyễn Cao M, Võ Quốc D1, Huỳnh Chí H1, Nguyễn Phạm Hoàng H3, Nguyễn Anh D3, Nguyễn Chí K, Nguyễn Hoàng Gia H4, Võ Quốc Kháng C, Đào Nhật B3, Võ Tấn A, Phan Tấn L, Trang Thế K1, Võ Thành D5, Tô Nguyễn Tuấn K2, Nguyễn Hoàng T9 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Mai Gia T 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2024.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Phạm Tuấn D cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Cao M 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Phạm Nguyễn Cao M cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Võ Quốc D1 02 (Hai) năm 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2024.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Huỳnh Chí H1 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2024.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Hoàng H3 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Phạm Hoàng H3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D3 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Anh D3 cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí K 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Chí K cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Gia H4 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Hoàng Gia H4 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Võ Quốc Kháng C 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2024.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Đào Nhật B3 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Đào Nhật B3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Võ Tấn A 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Võ Tấn A cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Phan Tấn L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Phan Tấn L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Trang Thế K1 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Trang Thế K1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Võ Thành D5 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Võ Thành D5 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Tô Nguyễn Tuấn K2 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Tô Nguyễn Tuấn K2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T9 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Hoàng T9 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trường hợp các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 03 ống tròn phi 21, có lưỡi bầu bằng kim loại, chiều dài 2,2 mét, lưỡi dài 20 cm, bản rộng nhất dài 06 cm; 01 dao tự chế bằng kim loại có chiều dài 47 cm, bản rộng lưỡi dao dài 06 cm, cán bằng gỗ dài 14 cm; 01 dao tự chế bằng kim loại có chiều dài 40 cm, bản rộng lưỡi dao dài 06 cm, cán bằng kim loại dài 10 cm; 01 dao tự chế bằng kim loại dài 124 cm, cán tròn phi 21, lưỡi dao bản rộng 06 cm, chiều dài lưỡi dao 30 cm; 01 rựa bằng kim loại có chiều dài 100 cm, lưỡi dài 30 cm, bản rộng lưỡi dài 05 cm; 01 dao tự chế bằng kim loại 95 cm, cán tròn phi 21, lưỡi dao dài 35 cm, bản rộng lưỡi dao dài 07 cm; 01 ống sắt tròn phi 27, dài 2,15 mét.
  • + Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, số Imei 1: 350320740398894, số Imei 2: 350320740435613; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu hồng, số Imei 1: 356323453795656, số Imei 2: 356323453393577; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh, số Imei 1: 351075969280152, số Imei 2: 351075969074035; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đỏ, số Imei: 355355084857449, có sim số 0989790762; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu trắng, số Imei: 352848114226075, có sim số 0931930714 (đã qua sử dụng).
  • + Hoàn trả cho bị cáo Đào Nhật B3 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, số Imei 1: 357234090200241, số Imei 2: 357234090089149 (đã qua sử dụng).
  • + Hoàn trả cho ông Võ Thế N2 01 xe mô tô hiệu Hadosiva, biển số 53Y5-2579, số khung DYC795568, số máy 100E1913734 (đã qua sử dụng).
  • + Hoàn trả cho ông Nguyễn Chánh Đ1 01 xe mô tô hiệu Suzuki Raider, biển số 59Y3-523.68, số khung NLV135646, số máy CGA1535834 (đã qua sử dụng).
  • + Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị B2 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 59Y3-871.96, số khung 0343PY047113, số máy 0760556 (đã qua sử dụng).
  • + Tiếp tục thông báo truy tìm chủ sở hữu các vật chứng gồm: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 84K1-351.17, số khung KY227848, số máy X9E615704; 01 xe mô tô hiệu Kymco, biển số 59DB-021.97, số khung PYGA001819, số máy 100004023; 01 xe mô tô hiệu Drin, biển số 53R9-1027, số khung 013DR000497, số máy FMG330001522; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 72G1-215.06, số khung 10DY316527, số máy 55P1316535; 01 xe mô tô hiệu Fantom, biển số 12K1-5049, số khung HUUM5X005582, số máy 52FMHT005582. Nếu hết thời hạn truy tìm mà không có ai đến nhận thì tịch thu sung Công quỹ Nhà nước.

Các vật chứng, tài sản nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 227/PNK ngày 24/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Bút lục số 740)

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:

- Án phí HS-ST: Bị cáo Mai Gia T, Phạm Tuấn D, Phạm Nguyễn Cao M, Võ Quốc D1, Huỳnh Chí H1, Nguyễn Phạm Hoàng H3, Nguyễn Anh D3, Nguyễn Chí K, Nguyễn Hoàng Gia H4, Võ Quốc Kháng C, Đào Nhật B3, Võ Tấn A, Phan Tấn L, Trang Thế K1, Võ Thành D5, Tô Nguyễn Tuấn K2, Nguyễn Hoàng T9, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật, người giám hộ của các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện theo pháp luật của các bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

- TAND Tp. Hồ Chí Minh;

- VKSND huyện Củ Chi;

- Công an huyện Củ Chi;

- Chi cục THADS huyện Củ Chi;

- Phòng PC 27;

- Bị cáo;

- Lưu: Vp, hồ sơ. (50b)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký, đóng dấu)

Phan Hùng Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HSST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 32/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Mai Gia T và đồng phạm phạm tội Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger