Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày: 21 - 3 - 2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trường

Các Hội thẩm nhân dân.

  • + Bà Lê Thị Thanh Nhàn
  • + Bà Phạm Thị Tư

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1- Họ và tên: Phan Quốc H; Tên gọi khác: H Nhóc; Sinh ngày: 28/9/2001; Nơi sinh: tỉnh Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số 106 đường Đoàn Thị Điểm, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Trọng C, sinh năm 1980; Con bà: Cao Thị H, sinh năm 1979; Vợ: Nguyễn Ngọc N, sinh năm 2002 (đã ly hôn tháng 03/2024);

- Tiền án: Có 02 tiền án:

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 43/HSST ngày 09/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tuyên phạt bị cáo Phan Quốc H 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín LQ3ệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong ngày 23/7/2020, chưa được xóa án tích.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 135/ST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tuyên phạt bị cáo Phan Quốc H 01 năm 06 tháng tù về

tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo chấp hành xong ngày 20/10/2022, chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/6/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2- Họ và tên: Lê Nguyễn Minh K; Tên gọi khác: K xinh; Sinh ngày: 15/01/2001. Nơi sinh: tỉnh Lâm Đồng. NKTT: Tổ 3, thị trấn T, huyện M, tỉnh Lâm Đồng. Chỗ ở hiện tại: Số 46/35 đường Phan Chu Trinh, Tổ 3, phường X, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Minh K1, sinh năm 1977; Con bà: Nguyễn Thị K2, sinh năm 1975; Vợ, con: Chưa có;

- Tiền án: Có 02 tiền án:

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 135/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Minh K 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo chấp hành xong ngày 20/10/2022, chưa được xóa án tích.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 144/HSST ngày 29/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Minh K 09 tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án là 02 năm tù. Bị cáo chấp hành xong ngày 03/10/2023, chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Ngày 30/12/2020 bị Công an xã Q, huyện M, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 750.000₫ về hành vi đánh nhau.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/6/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3- Họ và tên: Vũ Hoàng Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 04/10/2005; Nơi sinh: tỉnh Lâm Đồng. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số 276 đường Đoàn Thị Điểm, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Hoàng Đ1, sinh năm 1976; Con bà: Đỗ Thị Thái Đ2, sinh năm 1986; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Ngày 17/4/2020 bị Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + Ngày 20/5/2020 bị Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 42/QĐ bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/6/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4- Họ và tên: Trần Hạo N; Tên gọi khác: Dế; Sinh ngày: 14/6/2004. Nơi sinh: tỉnh Lâm Đồng. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn 4, xã T, huyện M, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Long N1, sinh năm 1981; Con bà: Nguyễn Thị Tuyết N2, sinh năm 1982; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/6/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5- Họ và tên: Lê Trần Gia H1; Tên gọi khác: H1 nhỏ; Sinh ngày: 11/6/2008; Nơi sinh: tỉnh Lâm Đồng. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số 133/13 Đường 1/5, phường B'Lao, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn Ng, sinh năm 1982; Con bà: Trần Thị Thu H, sinh năm 1985; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 12/6/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/6/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người giám hộ cho bị cáo Lê Trần Gia H1: Ông Lê Văn V, sinh năm: 1951 - Là ông nội của bị cáo. Địa chỉ: Tổ 12, phường B' Lao, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt).

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Lê Trần Gia H1: Ông Vũ Cát S là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lâm Đồng. (có mặt).

* Bị hại: Anh Nguyễn Thái B1, sinh ngày 02/01/2006. Địa chỉ: Số 24/5A đường Hà Giang, phường C, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Chị Nguyễn Vũ Kim LQ1, sinh ngày: 31/3/2009. Người giám hộ: Bà Trương Thị Z, sinh năm: 1982 - Là mẹ ruột. Địa chỉ: Số 06 đường Ngô Đức Kế, phường B'Lao, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt).

2- Chị Nguyễn Ngọc LQ2, sinh ngày: 05/8/2008. Người giám hộ: Bà Trương Ngọc D, sinh năm: 1981 - Là mẹ ruột. Địa chỉ: Số 238 Đường 1/5, phường B'Lao, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt).

3- Chị Nguyễn Thị Hồng LQ3, sinh năm: 1997. Địa chỉ: Thôn 1, xã N, huyện M, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt).

4- Anh Lê Đức Phong LQ4, sinh năm: 1997. Địa chỉ: Số 42 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phường Y, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 30/5/2024 Trần Hạo N, Lê Trần Gia H1, Vũ Hoàng Đ cùng với Nguyễn Vũ Kim LQ1 thuê phòng số 08, khách sạn Hoa Lâm, địa chỉ: phường P, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để ở. Đến khoảng 16 giờ ngày 30/5/2024, Nguyễn Thái B1 rủ LQ1 đi chơi và nói với LQ1: “Em cứ chơi với tụi thằng Đ, có ngày nó chuốc thuốc em chết”. Sau khi đi chơi về LQ1 kể lại cho Đ, N, Lê Trần Gia H1 về việc B1 nói xấu Đ nên Đ, Lê Trần Gia H1, N, LQ1 lên kế hoạch để đánh B1. Để thực hiện ý định trên, LQ1 gọi điện cho B1 đến khách sạn Hoa Lâm. B1 một mình điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, màu sơn trắng đen, biển số 54T2-4763 đến khách sạn, vừa vào phòng số 08 thì Lê Trần Gia H1 khóa chốt cửa phòng lại. Lúc này Đ cầm một con dao cán gỗ có chiều dài khoảng 60cm nhưng không sử dụng, mà dùng tay chân, Lê Trần Gia H1 dùng một cây gậy ba khúc cùng N dùng tay chân đánh vào người B1. Đánh khoảng 10 phút thì dừng lại, lúc này điện thoại di động trong người B1 đổ chuông, B1 lấy điện thoại ra thì bị Đ giật điện thoại rồi để trên bàn và yêu cầu B1 ngồi ở góc phòng và không cho đi ra ngoài. Đồng thời Đ gọi video bằng ứng dụng Messenger cho Phan Quốc H rủ H cùng đến để làm tiền (đánh, đe dọa và chiếm đoạt tài sản) đối với B1. Lúc này Phan Quốc H đang ở nhà cùng với Lê Nguyễn Minh K và Nguyễn Thị Ngọc LQ2 nên Phan Quốc H rủ thêm K và LQ2 đi cùng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, cả ba người đến khách sạn Hoa Lâm thì K và LQ2 thuê một phòng số 03 của khách sạn, còn Phan Quốc H một mình đi vào phòng số 8 gặp Đ, LQ1 đang ở phòng. Phan Quốc H nói Đ đưa B1 qua phòng khác để nói chuyện, đồng thời Phan Quốc H lấy chiếc điện thoại của B1 đang để trên bàn cầm theo và đưa B1 vào phòng số 03, Phan Quốc H tiếp tục dùng chân đá vào người B1, yêu cầu B1 gọi điện thoại để vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) đưa cho H. Do sợ bị đánh nên B1 đã gọi điện thoại cho người quen vay tiền nhưng không vay được. Sau đó Phan Quốc H nảy sinh ý định và lấy lại chiếc điện thoại của B1 để sử dụng tài khoản Icloud của B1 vay tiền, Phan Quốc H và N đưa B1 sang phòng số 08, yêu cầu B1 cung cấp mật khẩu màn hình điện thoại, tài khoản và mật khẩu Icloud của B1 rồi H liên lạc với một người có tài khoản Facebook là “Anh Tiến Icloud” vay số tiền

2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Sau khi thực hiện các thao tác thì “Anh Tiến Icloud” chuyển khoản số tiền 1.350.000đ (Một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) cho Phan Quốc H. Sau khi nhận được tiền Phan Quốc H đi về phòng số 03, còn phòng số 08 có N, LQ1 và B1, do B1 nói LQ1 sống lỗi nên LQ1 dùng mũ bảo hiểm đánh vào người B1. Một lúc sau H đưa B1 về phòng số 03 yêu cầu B1 ngồi trong tủ quần áo. Số tiền vay được Phan Quốc H chuyển khoản cho Đ và N mỗi người 300.000đ, chuyển khoản cho K 200.000đ, H giữ lại 850.000đ và trả nợ cho Nguyễn Thị Hồng LQ3 400.000đ, số tiền 450.000đ còn lại H nạp tiền chơi game hết.

Đến khoảng 00 giờ 56 phút ngày 31/5/2024 Phan Quốc H liên hệ với Lê Đức Phong LQ4 (Năm Cam) để cầm điện thoại và xe mô tô của B1 thì LQ4 chỉ đồng ý cầm chiếc điện thoại với số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng), còn chiếc xe máy thì không nhận cầm cố. Khoảng 04 giờ ngày 31/5/2024 Lê Trần Gia H1 và K mang chiếc điện thoại của B1 đến đưa cho LQ4, sau khi nhận điện thoại thì LQ4 chuyển cho Phan Quốc H số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Số tiền trên, Phan Quốc H chuyển cho Đ, K, N mỗi người 200.000đ, H giữ lại 950.000đ, tiếp tục trả nợ cho LQ3 300.000đ còn 650.000₫ H nạp tiền game. Tiếp đó cả nhóm đưa B1 sang phòng số 04 của Nguyễn Thị Hồng LQ3, Đ và Như V và Kh (chưa rõ nhân thân lai lịch) đã thuê trước đó rồi yêu cầu B1 ngồi vào tủ quần áo.

Đến khoảng 07 giờ ngày 31/5/2024 Phan Quốc H đưa B1 sang phòng số 03, mượn điện thoại của LQ1 đưa cho B1 yêu cầu B1 tiếp tục liên lạc với gia đình để vay tiền đưa cho H. B1 vay được số tiền 600.000đ (Sáu trăm ngàn đồng) của anh Lê Văn G sau đó B1 chuyển số tiền trên vào ví điện tử Momo của H. H dùng để nạp tiền chơi game hết. H đưa B1 về lại phòng số 04 tiếp tục giữ B1 tại đây. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H liên hệ với LQ4 để tiếp tục thỏa thuận cầm cố chiếc xe máy của B1 thì LQ4 đồng ý cầm với giá 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Sau đó H nói Lê Trần Gia H1 và N mang chiếc xe của B1 đến giao cho LQ4, khi giao xe xong thì cả hai đi taxi quay trở về lại khách sạn. Sau khi nhận xe thì LQ4 chuyển vào tài khoản của Phan Quốc H số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) do trừ đi 200.000đ tiền lời và 300.000₫ là tiền H nợ LQ4 trước đó. Số tiền trên H chuyển khoản cho N 600.000đ, N dùng số tiền trên để nạp tiền game hết; chuyển cho Vũ Hoàng Thái Ng 100.000đ; chuyển trả nợ cho Hoàng Thắng U (chưa rõ nhân thân lai lịch) 500.000đ và trả nợ cho LQ3 300.000đ.

Đến sáng ngày 01/6/2024, cả nhóm bàn bạc sẽ thả B1 về, Phan Quốc H yêu cầu B1 viết một tờ giấy vay nợ tuy nhiên khi B1 mới viết được một số dòng tiêu đề, tên tuổi thì Phan Quốc H không yêu cầu B1 viết tiếp nữa. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì Phan Quốc H điều khiển xe mô tô của Đ chở B1 về khu vực cây xăng Hà Giang. Trên

đường đi H nhóc yêu cầu B1 giữ kín sự việc và nói B1 đưa H số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) mới chuộc được xe và điện thoại. Sau khi về B1 tiếp tục xoay tiền để chuyển cho Phan Quốc H. Vào ngày 03/6/2024, B1 chuyển 03 (ba) lần với số tiền 900.000₫ (Chín trăm ngàn đồng) vào tài khoản ngân hàng MBBank số 3321082809 của Phan Quốc H. Sau khi nhận được tiền của B1, H không chuộc xe và điện thoại cho B1 như đã hứa mà đã dùng toàn bộ số tiền trên để chơi game. Đến ngày 06/6/2024 B1 đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 55/KL-HĐĐGTS ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng kết luận: Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn trắng đen, biển số 54T2-4763 là 6.334.000đ (Sáu triệu ba trăm ba mươi bốn ngàn đồng); Giá trị một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh là 4.833.000đ (Bốn triệu tám trăm ba mươi ba ngàn đồng). Tổng giá trị tài sản là 11.167.000₫ (Mười một triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).

Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 483/KLTTCT-PYLĐ ngày 05/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Thái B1 là 0% (không phần trăm).

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSBL ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Phan Quốc H về tội “Cướp tài sản”, tội “Giữ người trái pháp luật” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố các bị cáo Vũ Hoàng Đ, Trần Hạo N, Lê Nguyễn Minh K về tội “Cướp tài sản” và tội “Giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 và khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và truy tố bị cáo Lê Trần Gia H1 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điếu 52, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phan Quốc H từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Cướp tài sản”, từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật” và từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
  • sản”; tổng hợp hình phạt chung từ 07 năm đến 08 năm 06 tháng tù; thời han tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/6/2024.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 157, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điếu 52, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Minh K từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” và từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt chung từ 05 năm đến 06 năm 06 tháng tù; thời han tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/6/2024.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 157, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ Hoàng Đ từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt chung từ 05 năm đến 05 năm 09 tháng tù; thời han tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/6/2024.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 157, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Hạo N từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt chung từ 05 năm đến 05 năm 09 tháng tù; thời han tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/6/2024.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Trần Gia H1 từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; thời han tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, về trách LQ3ệm dân sự và án phí hình sự sơ thẩm.

+ Các bị cáo Phan Quốc H, Vũ Hoàng Đ, Trần Hạo N, Lê Nguyễn Minh K, Lê Trần Gia H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Lê Trần Gia H1 bào chữa cho bị cáo: Bị cáo Lê Trần Gia H1 chưa đủ tuổi thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

+ Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của các bị cáo là sai và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện:

Do bị Nguyễn Thái B1 nói xấu nên trong thời gian từ ngày 30/5/2024 đến ngày 01/6/2024 tại các phòng số 03, 04, 08 khách sạn Hoa Lâm, phường P, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Vũ Hoàng Đ, Lê Trần Gia H1, Trần Hạo N cùng Phan Quốc H, Lê Nguyễn Minh K đã thực hiện hành vi giữ anh Nguyễn Thái B1 trái phép và thực hiện hành vi dùng tay, chân đánh vào mặt và người anh Nguyễn Thái B1 rồi chiếm đoạt các tài sản gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 trị giá 4.833.000đ; 01 chiếc xe mô tô biển số 54T2-4763 trị giá 6.334.000đ; số tiền 600.000₫ do anh Lê Văn G chuyển cho B1. Đến ngày 03/6/2024 Phan Quốc H tiếp tục thực hiện hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 900.000đ của anh B1 để sử dụng vào mục đích cá nhân. Tại thời điểm thực hiện hành vi trên Phan Quốc H đã bị kết án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích. Hành vi của các bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, sức khỏe, quyền bất khả xâm phạm về tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Quốc H đã phạm tội “Cướp tài sản”, tội “Giữ người trái pháp luật” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo Vũ Hoàng Đ, Trần Hạo N, Lê Nguyễn Minh K đã phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Giữ người trái pháp luật”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 và khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Lê Trần Gia H1 đã phạm tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo

trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, sức khỏe, quyền bất khả xâm phạm về tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng cho các bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Quốc H và Lê Nguyễn Minh K bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Phan Quốc H, Vũ Hoàng Đ, Trần Hạo N, Lê Nguyễn Minh K đã thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại và được người bị hại viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Trần Gia H1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và trả lại: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn trắng đen, biển số 54T2-4763 và giấy đăng ký xe cho ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972, trú tại: Thôn 10, xã Y, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại cho anh Nguyễn Thái B1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh và 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thái B1 là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme Narzo 50i Prime màu đen của Nguyễn Vũ Kim LQ1 và 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu đen, trắng của Nguyễn Thái B1. Đây là những tài sản hợp pháp của chị LQ1 và anh B1 nên cần trả lại là phù hợp.

Đối với số tiền 1.650.000đ (Một triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) do các bị cáo Lê Nguyễn Minh K, Vũ Hoàng Đ, Trần Hạo N giao nộp cần sung vào công quỹ Nhà nước.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra bị cáo Phan Quốc H đã tự nguyện bồi thường cho Lê Đức Phong LQ4 số tiền 4.000.000đ, sau khi nhận số tiền này anh LQ4 không có yêu cầu gì về dân sự. Anh Nguyễn Thái B1 đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại là 21.000.000đ từ các bị cáo và không có yêu cầu gì về phần dân sự nên không đề cập đến.

[8] Đối với hành vi của Nguyễn Vũ Kim LQ1 là người gọi anh B1 đến khách sạn Hoa Lâm vào tối ngày 30/5/2024 tuy nhiên chỉ nhằm mục đích để đánh dằn mặt mà không có mục đích cướp tài sản của anh B1 và trong quá trình nhóm của Phan Quốc H đánh và chiếm đoạt tài sản của anh B1 thì LQ1 không có lời nói, hành động cổ vũ, giúp sức cũng không được hứa hẹn và hưởng lợi ích gì. Hành vi của LQ1 có dấu hiệu của tội Giữ người trái pháp luật và tội Không tố giác tội phạm theo quy định tại Điều 157 và 390 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi trên LQ1 chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ít nghiêm trọng theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy không xem xét trách nhiệm hình sự của Nguyễn Vũ Kim LQ1 là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi của Nguyễn Ngọc LQ2: Vào tối ngày 30/5/2024 tại khách sạn Hoa Lâm, LQ2 biết việc nhóm của Phan Quốc H đánh, giữ người và chiếm đoạt tài sản của anh B1 nhưng LQ2 không được bàn bạc, không có lời nói, hành động cổ vũ, giúp sức cũng không được hứa hẹn và hưởng lợi ích gì. Hành vi của LQ2 có dấu hiệu của tội Không tố giác tội phạm theo quy định tại Điều 390 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi trên LQ2 chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ít nghiêm trọng theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy không xem xét trách nhiệm hình sự của Nguyễn Ngọc LQ2 là đúng quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Thị Hồng LQ3: Không biết việc nhóm của Phan Quốc H đánh và chiếm đoạt tài sản vào ngày 30/5/2024. Sau khi B1 bị nhóm của H đưa sang phòng của mình (phòng số 4) và nhốt B1 trong tủ quần áo thì LQ3 biết việc anh B1 bị giữ trái pháp luật, tuy nhiên LQ3 không có lời nói, hành động cổ vũ, giúp sức. Ngoài ra, khi nhận được số tiền 1.000.000đ từ Phan Quốc H thì LQ3 không biết số tiền này do H phạm tội mà có. Vì vậy không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Hồng LQ3 về tội Giữ người trái pháp luật và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là đúng quy định pháp luật.

Đối với Lê Đức Phong LQ4: Ngày 31/5/2024 và ngày 01/6/2024 LQ4 nhận cầm cố tài sản là chiếc điện thoại di động và xe mô tô biển số 54T2-4763 từ Phan Quốc H. Tuy nhiên LQ4 không biết số tài sản này là do Phan Quốc H phạm tội mà có. Do đó

không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Lê Đức Phong LQ4 về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là đúng quy định pháp luật.

Đối với Vũ Hoàng Thái Ng: Ngày 31/5/2024 Ng xin tiền và được Phan Quốc H chuyển cho 100.000đ để sử dụng tiêu xài cá nhân. Tuy nhiên Ng không biết đây là tài sản do Phan Quốc H phạm tội mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là đúng quy định pháp luật.

Đối với Phan Quốc H, Trần Hạo N, Vũ Hoàng Đ và Lê Trần Gia H1 có hành vi dùng tay, chân còn Nguyễn Vũ Kim LQ1 dùng mũ bảo hiểm đánh Nguyễn Thái B1 tỷ lệ thương tật là 0% (không phần trăm) không đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự. Vì vậy không xem xét trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và LQ1 về tội Cố ý gây thương tích là đúng quy định pháp luật.

[9] Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án” buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phan Quốc H phạm tội “Cướp tài sản”, tội “Giữ người trái pháp luật” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phan Quốc H 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”, 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật” và 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tổng hợp hình phạt là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/6/2024.

2. Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Minh K phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Giữ người trái pháp luật”;

Áp dụng khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 157, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Minh K 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 12 (mười hai) tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt là 05 (năm) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/6/2024.

3. Tuyên bố bị cáo Vũ Hoàng Đ phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Giữ người trái pháp luật”; Áp dụng khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 157, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ Hoàng Đ 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 12 (mười hai) tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt là 05 (năm) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/6/2024.

4. Tuyên bố bị cáo Trần Hạo N phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Giữ người trái pháp luật”;

Áp dụng khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 157, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Hạo N 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 12 (mười hai) tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; tổng hợp hình phạt là 05 (năm) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/6/2024.

5. Tuyên bố bị cáo Lê Trần Gia H1 phạm tội “Cướp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Trần Gia H1 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án nhưng trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ kể từ ngày 07/6/2024 đến ngày 12/6/2024.

6. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo,

7. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và trả lại: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn trắng đen, biển số 54T2-4763 và giấy đăng ký xe cho ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972, trú tại: Thôn 10, xã Y, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại cho anh Nguyễn Thái B1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh và 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thái B1 là phù hợp.

Trả lại cho chị Nguyễn Vũ Kim LQ1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme Narzo 50i Prime màu đen.

Trả lại cho anh Nguyễn Thái B1 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu đen, trắng.

Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 1.650.000đ (Một triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) do các bị cáo Lê Nguyễn Minh K, Vũ Hoàng Đ, Trần Hạo N giao nộp.

8. Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra bị cáo Phan Quốc H đã tự nguyện bồi thường cho Lê Đức Phong LQ4 số tiền 4.000.000đ, sau khi nhận số tiền này anh LQ4 không có yêu cầu gì về dân sự. Anh Nguyễn Thái Bảo đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại là 21.000.000đ từ các bị cáo và không có yêu cầu gì về phần dân sự nên không đề cập đến.

9. Về án phí: Buộc các bị cáo Phan Quốc H, Vũ Hoàng Đ, Trần Hạo N, Lê Nguyễn Minh K và Lê Trần Gia H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

10. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/3/2025); bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. (Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ được kháng cáo phần liên quan).

Nơi nhân:

  • - TAND, VKSND, CA tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố B;
  • - Chi cục THADS thành phố B;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Nguyễn Đức Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH LÂM ĐỒNG về cướp tài sản, giữ người trái pháp luật và lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản, Giữ người trái pháp luật và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xừ có tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger