|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HSST Ngày: 12-11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 –AN GIANG
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Tấn Kiệt
- Bà Dương Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Chao Thị Mỹ Hường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 8 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Kiều Thanh L (tên gọi khác là M, M1), sinh ngày 19 tháng 6 năm 1995 tại A - Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú: ấp H, Đặc khu P, tỉnh An Giang; nơi ở hiện tại: nhà T, Khu phố E - B, phường H, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Thanh H và bà Huỳnh Ngọc L1 (chết); bị cáo không có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2025 cho đến nay; bị cáo có mặt.
- Nguyễn Hồng P, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1990 tại tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Khu phố E - B, phường H, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng P1 và bà Trần Thị G; bị cáo không có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2025 cho đến nay; bị cáo có mặt.
- Thái Văn P2 (tên gọi khác là B, Ku B), sinh ngày 02 tháng 4 năm 2003 tại tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Khu phố C - Đ, phường H, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Quang M2 và bà Trịnh Thị Hồng T; bị cáo không có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2025 cho đến nay; bị cáo có mặt.
- Nguyễn Trung M3 (tên gọi khác là Minh L2), sinh ngày 16 tháng 3 năm 1998 tại tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Khu phố C - Đ, phường H, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành T1 (chết) và bà Danh Thị Ngọc B1; bị cáo không có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: Ngày 17/4/2020, bị Tòa án nhân thành phố H, tỉnh Kiên Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – An Giang) xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo Bản án số 07/2020/HS-ST. Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 300/GCN ngày 26/3/2024, chấp hành xong nghĩa vụ đóng án phí và các quyết định khác của bản án (chưa được xóa án tích); nhân thân: không tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2025 cho đến nay; bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trần Thị G, sinh năm 1969; địa chỉ: Khu phố E - B, phường H, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Ông Thái Quang M2, sinh năm 1981; địa chỉ: Khu phố C - Đ, phường H, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Bà Trịnh Thị Hồng T, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu phố C - Đ, phường H, tỉnh An Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 21 tháng 4 năm 2025, Kiều Thanh L đang ở phòng trọ do L thuê tại phòng số 6, nhà T thuộc khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (nay là khu P - B, phường H, tỉnh An Giang) thì Nguyễn Hồng P đến, L lấy dụng cụ sử dụng ma túy ra rủ P cùng sử dụng ma túy nhưng do trong nỏ chỉ còn ít ma túy nên P điều khiển xe mô tô biển soát 68TA-00475 đi mua 200.000 đồng ma tuý của người phụ nữ tên N (không rõ nhân thân, địa chỉ) rồi trở lại phòng trọ của L, cùng L sử dụng ma tuý. P trút hết ma túy vừa mua vào trong nỏ và cùng L sử dụng ma túy bằng hình thức xoay vòng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì nghỉ, bên trong nỏ vẫn còn ít ma túy (bút lục số 196, 200, 202, 208, 209).
Cũng trong ngày 21/4/2025, Thái Văn P2, Nguyễn Trung M3 và người tên D (B2) do P2 là người điều khiển xe cùng nhau đi mua ma túy. Trong đó, D hùn 300.000 đồng, M3 hùn 200.000 đồng bằng cách đưa chiếc chiếc điện thoại di động cho Phong cầm cho người bán ma túy, P2 vào mua ma túy của người có tên gọi là N (không rõ nhân thân, địa chỉ), M3 đứng ở ngoài chờ P2. Khi về đến nơi trọ của P2, cả ba người đem ma túy ra sử dụng khoảng 03 vòng thì ngưng, ma túy vẫn còn, M3 bỏ ma túy vào trong túi quần của mình, P2 và M3 đưa D đi lên ghe, sau đó, P2 và M3 đến nơi trọ của L.
Khoảng 05 giờ ngày 22 tháng 4 năm 2025, khi đến phòng trọ của Kiều Thanh L, và Nguyễn Trung M3 gợi ý với Thái Văn P2 đem số ma túy đó ra sử dụng luôn và P2 đồng ý. M3 đưa cho P2 01 bịch ma túy. Bịch ma túy này là của P2, M3 và B2 (tên gọi khác D, không rõ nhân thân, địa chỉ) mua của N. P2 trút ma túy vào nó thủy tinh trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy của L rồi cùng L, P và M3 sử dụng ma túy xoay vòng, mỗi người hút được khoảng 02 đến 03 lần thì P2 và M3 đi trả xe cho ông Thái Quang M2 (cha ruột P2). Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, M2 và P2 quay lại phòng trọ của L tiếp tục sử dụng ma tuý thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K (nay là tỉnh An Giang) phát hiện bắt quả tang, thu giữ nhiều tang vật và dụng cụ sử dụng ma túy, niêm phong gửi giám định.
(Các bút lục số 186, 187, 192, 193, 198, 202, 208 đến 229).
Về vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A) đã thu giữ gồm:
- + 01 (một) ống nhựa không màu dài 4,3 cm;
- + 01 (một) ống nhựa không màu dài 2,7 cm, một đầu được hàn kin;
- + 01 (một) nắp nhựa màu đỏ trên nắp gắn một ống nhựa màu vàng dài 9,7 cm;
- + 01 (một) ống thủy tỉnh dài 7,8 cm bên trong có chứa chất bám dính được niêm phong trong bì thư màu trăng, có ghi dòng chữ “vụ sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 22/4/2025 tại khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang” và chữ ký ghi họ tên ĐTV Nguyễn Văn N1, người liên quan Kiều Thanh L, người chứng kiến Trần Văn C, gửi giám định;
- + 01 (một) ống thủy tinh không màu có chiều dài 09 cm, bị bể, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) chai thủy tinh kích thước 09 cm x 03 cm trên thân chai có quấn băng keo màu đen nắp chai bằng nhựa màu đen, trên nắp chai có gắn một ống nhựa màu xanh dài 9,5 cm và một ống thủy tinh, trong chai thủy tinh có chứa chất lỏng không màu; được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS4A 146272, có chữ ký ghi họ tên ĐTV Nguyễn Văn N1, người liên quan Kiều Thanh L, người chứng kiến Trần Văn C, gửi giám định;
- + 01 (một) ống thủy tinh dài 3,5 cm bên trong có chứa chất bám dính cũng được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS4A 146272, gửi giám định (khi mở niêm phong, phát hiện ống thủy tinh bị vỡ thành các mãnh vỡ thủy tinh);
- + 01 (một) bật lửa nắp bật màu hồng bên trong có chứa các hạt súc sắc, trên bật lửa có dòng chữ “Hoa V” kích thước 7,9 cm x 02 cm;
- + 01 (một) bật lửa nắp bật màu xanh bên trong có chứa các hạt súc sắc, trên bật lửa có dòng chữ “HD 373" kích thước 7,9 cm x 02 cm.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã niêm phong gửi mẫu đi giám định 02 mẫu vật gồm:
Mẫu 01: 01 (một) túi niêm phong, có mã số NS4A 146272, có chữ ký ghi họ tên: ĐTV Nguyễn Văn N1; Kiều Thanh L; Trần Văn C, bên trong có:
- + 01 (một) chai (phần thân trên bằng nhựa, phần thân dưới bằng cốc thủy tỉnh, cả hai được kết nối với nhau bằng băng keo màu đen) kích thước 09 cm x 03 cm, nắp chai màu đen, trên nắp có gắn 01 (một) ống nhựa màu xanh dài 9,5 cm và 01 (một) ống thủy tỉnh, bên trong chai có chứa chất lỏng không màu.
- + Các mãnh vỡ thủy tinh, bên trong có chứa chất bám dính.
Mẫu 2: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong, có ghi dòng chữ “vụ sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 22/4/2025 tại khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang” và các chữ ký ghi họ tên: ĐTV Nguyễn Văn N1; Kiều Thanh L; Trần Văn C, bên trong có 01 (một) ống thủy tinh dài 7,8 cm, bên trong có chứa chất bám dính.
Tại Kết luận giám định số 457/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh K (nay là tỉnh An Giang) đã kết luận: chất lỏng không màu ở mẫu vật 1 và chất bám dính trong mẫu vật 2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng trong 02 mẫu vật gửi giám định là 0,0496 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ. (Bút lục số 79).
Tại Bản cáo trạng số 11/CT-VKSK ngày 11/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – An Giang đã truy tố các bị cáo Kiều Thanh L, Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Trung Minh P3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm a, b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Đối với người tên B2 (dự) và người đã có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 và Nguyễn Trung M3 Cơ quan điều tra Công an tỉnh A đã xác minh nhưng không rõ nhân thân, không có cơ sở xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và sẽ xử lý khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Kiều Thanh L, Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 và Nguyễn Trung M3 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm hình sự đối với Kiều Thanh L, Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 đề nghị áp dụng chung các điểm a, b khoản 2 Điều 255, các điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Kiều Thanh L, Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Trung M3 đề nghị áp dụng các điểm a, b, h khoản 2 Điều 255, các điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung M3 mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám( năm) tù.
- Về vật chứng của vụ án, đề nghị áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng.
- - Các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại đối với kết luận giám định và khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như nội dung bản Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: các bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của mình và mong HĐXX xem xét để các bị cáo sớm quay về giúp ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét thấy Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong 02 ngày 21 và 22/4/2025, các bị cáo Kiều Thanh L, Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 và Nguyễn Trung M3 đã 02 lần tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể: ngày 21/4/2025, Kiều Thanh L cung cấp địa điểm, Nguyễn Hồng P cung cấp ma túy cho L và P sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 22/4/2025, lần đầu tiên Thái Văn P2, Nguyễn Trung M3 và người có tên D (B2) có hành vi cung cấp trái chất ma túy, Thái Văn P2 cung cấp địa điểm cho Thái Văn P2, Nguyễn Trung M3 và người tên D (chưa rõ lai lịch) sử dụng trái phép chất ma túy. Lần thứ hai, Kiều Thanh L cung cấp địa điểm, Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 và Nguyễn Trung M3 cung cấp ma túy cho L, P, P2 và M3 cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, M3 và P2 quay lại phòng trọ của L tiếp tục sử dụng ma tuý thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K (nay là tỉnh An Giang) phát hiện bắt quả tang, thu giữ nhiều tang vật và dụng cụ sử dụng ma túy, niêm phong 02 mẫu vật gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 457/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh K (nay là tỉnh An Giang) đã kết luận: chất lỏng không màu ở mẫu vật 1 và chất bám dính trong mẫu vật 2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng trong 02 mẫu vật gửi giám định là 0,0496 gam. Tại Phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 22/4/2025 xác định các bị cáo Kiều Thanh L, Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 và Nguyễn Trung M3 đều dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Kiều Thanh L, Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 và Nguyễn Trung M3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với bản kết luận giám định và Phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể nên đủ căn cứ xét xử các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định các điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; riêng bị cáo Nguyễn Trung M3 còn có thêm tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người và tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi phạm pháp luật. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước mà cón ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức và hành vi của tầng lớp thanh thiếu niên, làm phức tạp thêm tình hình an ninh và trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: các bị cáo Kiều Thanh L, Nguyễn Hồng P và Thái Văn P2 đều là người nghiện ma túy, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội với 02 tình tiết định khung quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự nên có tính chất phạm tội như nhau; riêng Nguyễn Trung M3, còn có thêm tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 nên mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo M3 là nguy hiểm hơn các bị có còn lại. Do đó, trong quá trình lượng hình, Tòa án cần xem xét, cân nhắc mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, kết hợp với các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ và nhân thân của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt cho phù hợp.
[4] Về tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự khai báo hành vi phạm tội trước đó chưa bị phát hiện nên có căn cứ cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về nhân thân: Kiều Thanh L, Nguyễn Hồng P và Thái Văn P2 có nhân thân tốt; riêng bị cáo Nguyễn Trung M3 đang có tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, thể hiện nhân thân không tốt.
[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 255 BLHS thì bì cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản, hiện đang bị tạm giam không thể lao động tạo ra thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo và xử lý vật chứng, chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:
Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy toàn bộ vật chứng.
[7] Về án phí: áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Kiều Thanh L, Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 và Nguyễn Trung M3 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đối với người tên B2 (dự) và người đã có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 và Nguyễn Trung M3 Cơ quan điều tra Công an tỉnh A đã xác minh nhưng không rõ nhân thân, không có cơ sở xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và sẽ xử lý khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 68TA-004.75 mà Nguyễn Hồng P sử dụng để đi mua ma túy không phải là tài sản của P và người quản lý hợp pháp chiếc xe này không có lỗi trong việc để cho P sử dụng đi mua ma túy. Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh K trả lại vật chứng cho người quản lý hợp pháp chiếc xe – bà Trần Thị G là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên Tòa án không xem xét lại.
[10] Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 68H1-007.86 mà Thái Văn P2 sử dụng để đi mua ma túy không phải là tài sản của P2 mà và chủ sở hữu chiếc xe này là ông Thái Quang M2. Chiếc xe hiện đang bị tạm giữ do vi phạm hành chính theo Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề số 004730/BB-TG ngày 30/5/2025 của Phòng C1 Công an tỉnh K nên sẽ được xử lý theo quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực giao.
[11] Đối với khối lượng ma túy còn lại là 0,0496 gam không đủ định lượng để xử lý các bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên Tòa án không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Kiều Thanh L, Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 và Nguyễn Trung M3 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo và xử lý vật chứng:
- + 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số 456/Mẫu 1. Bên trong phong bì thư gồm: 01 (một) chai có nắp màu đen, 01 (một) ống nhựa mà xanh, 01 (một) ống thủy tinh (chất lỏng và chất bám dính đã sử dụng hết trong quá trình giám định);
- + 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số 456/Mẫu 2. Bên trong phong bì thư gồm: 01 (một) ống thủy tinh và chất bám dính đã sử dụng hết trong quá trình giám định;
- + 01 (một) nắp nhựa màu đỏ trên nắp gắn một ống nhựa màu vàng dài 9,7 cm;
- + 01 (một) ống nhựa không màu dài 2,7 cm, một đầu được hàn kín;
- + 01 (một) ống nhựa không màu dài 4,3 cm;
- + 01 (một) ống thủy tinh không màu có chiều dài 09 cm, bị bể, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) bật lửa nắp bật màu hồng bên trong có chứa các hạt súc sắc, trên bật lửa có dòng chữ “Hoa V” kích thước (7,9 x 2) cm;
- + 01 (một) bật lửa nắp bật màu xanh bên trong có chứa các hạt súc sắc, trên bật lửa có dòng chữ “HD 373" kích thước (7,9 x 2) cm.
- Về án phí:
Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 255, các điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Kiều Thanh L mức án 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/4/2025.
Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 255, các điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P mức án 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/4/2025.
Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 255, các điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thái Văn P2 mức án 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/4/2025.
Áp dụng các điểm a, b, h khoản 2 Điều 255, các điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung M3 mức án 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/4/2025.
Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm:
Các vật chứng nêu trên, hiện đang bảo quản tại Kho vật chứng Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – An Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 02/QĐ-VKSKV ngày 20/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – An Giang.
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Kiều Thanh L, Nguyễn Hồng P, Thái Văn P2 và Nguyễn Trung M3 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thành Minh |
Bản án số 32/2025/HSST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – AN GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 32/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Kiều Thanh Lợi, Nguyễn Hồng Phúc, Thái Văn Phong và Nguyễn Trung Minh phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
