Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - THANH HÓA

Bản án số: 32/2025/HSST

Ngày: 09/12/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Sinh

Bà Lâm Thị Thu

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân dân

khu vực 1 - Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Thanh

Hoá tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 – Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2025/TL- HSST ngày 18 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37 /2025/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Cao Thành Đ, sinh ngày 22 tháng 11 năm 1995. Tại tỉnh Thanh Hoá.

Nơi thường trú: Số nhà H T, phường H, tỉnh Thanh Hóa; Thẻ CCCD số: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Vĩnh T, sinh năm 1972 và bà Lê Thị Kim T1, sinh năm 1971; có vợ: Đoàn Thị H, sinh năm 1997, có 01 con, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/9/2025 đến ngày 12/9/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực A Thanh Hóa, Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/9/2025, tại trước số nhà E T, phường H, tỉnh Thanh Hóa, Tổ công tác Công an phường H, tỉnh Thanh Hóa bắt quả tang Cao Thành Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đ giao nộp 01 gói giấy bạc, kích thước (0,5x1)cm, bên trong chứa 04 viên nén màu đỏ cất giấu trong cạp quần đùi đang mặc cho Tổ công tác và khai nhận đây là 04 viên hồng phiến Đ cất giấu để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 3387/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh T xác định 04 viên nén màu đỏ thu giữ của Đ là ma túy, có tổng khối lượng 0,358g, loại methamphetamine.

Về nguồn gốc ma túy: Đ khai do muốn sử dụng ma túy nên tối ngày 06/9/2025, Đ một mình đi đến khu vực cầu T, phường Q, tỉnh Thanh Hóa tìm mua ma túy. Tại đây Đ gặp và hỏi mua của một nam giới tên T2 (không biết thông tin, địa chỉ) 04 viên hồng phiến với giá 600.000đ. Người này đồng ý và nói Đ đợi một lúc. Sau đó, có một người đi xe máy đến ném xuống đất chỗ Đ đứng 01 gói giấy bạc chứa 04 viên hồng phiến. Đ nhặt lên, mang đi tìm nơi để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Về vật chứng : Chuyển toàn bộ bao gói mở niêm phong và 03 viên nén màu đỏ còn lại sau giám định đến Phòng Thi hành dân sự khu vực 1-Thanh Hóa để xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra Cao Thành Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSKV1 ngày 13/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa đã truy tố Cao Thành Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Cao Thành Đ từ 36 đến 40 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản và không có nghề nghiệp ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 03 viên nén màu đỏ có tổng khối lượng là 0,267 gam loại Methamphetamine còn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hoá, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Cao Thành Đ đã khai nhận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/9/2025, tại trước số nhà E T, phường H, tỉnh Thanh Hóa, Cao Thành Đ có hành vi tàng trữ trái phép 04 viên hồng phiến, có tổng khối lượng 0,358g, là ma túy loại methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.

[3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Do đó cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của Cao Thành Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 bộ luật hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Cao Thành Đ là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm, hành vi của bị cáo là nghiêm trọng không những đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên đã mua ma túy để sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguyên nhân tệ nạn nghiện ma túy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, lây truyền bệnh HIV... Do đó cần được đưa ra xử lý nghiêm minh theo pháp luật hình sự. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Nhân thân : Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội cùa mình. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS ; Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số vật chứng còn lại sau giám định là 0,267 gam loại Methamphetaminne.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố:

Bị cáo Cao Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

Bị cáo Cao Thành Đ 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 06/9/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì ma tuý niêm phong của phòng K1 Công an tỉnh T, có hình dấu của phòng K1, kèm các chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ1, Trần Ngọc K.

Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số: 25/2026/KV1 ngày 17/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Về án phí:

Bị cáo Cao Thành Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND Tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND khu vực 1 – Thanh Hoá;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Thanh Hoá (PV06);
  • - Văn phòng cảnh sát điều tra CA tỉnh Thanh Hoá;
  • - Thi hành án DS tỉnh Thanh Hoá;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HSST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger