TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 30-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vàng Xuân Hiệp.
- Thẩm phán: Bà Phan Thị Phương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Hữu Tiến; Bà Hà Thị Nở; Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thuý Vân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Xuân Hòa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST-HS, ngày 10 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Pờ Mò X; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nữ; sinh ngày 15/5/2005 tại xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: La Hủ; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; con ông Pờ Lo Đ, sinh năm 1974 và con bà Ly Khừ B, sinh năm 1976; Chồng: Chưa có; con: có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/11/2024, tạm giam từ ngày 20/11/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cách ngày 11/11/2024 khoảng một tuần, P Mò Xô đi xuống chợ thị trấn M, huyện M về, khi về gần đến bản Nặm Pặm, xã M, huyện M thì X gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng ngoài 20 tuổi đi xe máy đang dừng ở bên đường (bị cáo không rõ nhân thân, lai lịch) . Khi gặp X đi đến thì người đàn ông đó vẫy, X dừng xe xuống gặp người đó và người đàn ông đó có hỏi X: Chị có muốn mua ma túy (là H) không thì người đó bán cho. Xô hỏi giá bán như thế nào thì người đó đi vào bụi cây ở gần đường và lấy ra 01 gói ma tuý được gói bằng ni lông màu xanh được đốt túm lại một đầu và nói bán giá 1.000.000 đồng /01 gói, nghe người đó nói vậy nên X đồng ý mua. Sau đó X bảo người đó đợi, còn X đi xe máy về nhà và lấy số tiền 42.000.000 đồng. Sau đó X quay lại chỗ người đàn ông bán ma tuý mua 42 gói ma tuý, từng gói đều được đốt túm lại một đầu đựng chung trong một túi ni lông màu xanh. Xô kiểm đếm lại thấy đủ 42 gói ma tuý. Sau khi mua được số ma túy trên Xô mang về nhà cất giấu ở chỗ đống củi của gia đình và không nói cho ai biết, mục đích X mua và cất giấu số ma túy trên là để xem có ai mua thì X bán kiếm lời. Đến khoảng 03, 04 ngày sau, lúc đó X đang đi bộ ở đường trong bản thì gặp một người đàn ông khoảng hơn 50 tuổi Xô không biết tên, cũng đang đi bộ đến gặp và giới thiệu với X tên là C là người dân tộc Mường nhưng nhà ở đâu thì C không nói cho X biết. Qua nói chuyện C hỏi X có Heroine bán không thì bán cho C 01 bánh Heroine. Xô trả lời có một ít H, lúc đó C chỉ hỏi X như vậy nhưng chưa mua. Sau đó C xin số điện thoại của X, đồng thời nháy máy vào số điện thoại để tiện liên lạc rồi C đi luôn và X cũng đi về nhà. Đến khoảng 16 giờ, ngày 11/11/2024, khi X đang đi đón con đi học về thì nhận được điện thoại của C gọi bảo X ra khu vực bãi chuối (khu vực Km 231 + 700, Quốc lộ D, thuộc địa phận bản P, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu) gặp C để trao đổi nói chuyện việc mua bán ma túy. Khi đến nơi C bảo muốn mua 01 bánh Heroine, X trả lời không có đủ 01 bánh chỉ có 42 gói Heroine, X bán với giá 1.400.000 đồng/01 gói Heroine, C đồng ý. Sau đó C mở túi tiền đeo trên người cho X xem, X thấy có nhiều cọc tiền. Sau khi xem tiền xong X điều khiển xe mô tô của mình, biển kiểm soát 25M1-168.14 quay về nhà và đi ra chỗ đống củi lấy túi ni lông màu xanh bên trong đựng 42 gói Heroine, đi ra chỗ hẹn để bán ma túy cho C. Đến 16 giờ 30 phút ngày 11/11/2024, X đến điểm hẹn, chưa kịp giao số Heroine cho C thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số vật chứng, còn người đàn ông tên C đã bỏ chạy thoát.
Kết luận giám định số 1197/KL-KTHS, ngày 12/11/2024 và Kết luận giám định số 1198/KL-KTHS, ngày 18/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L, kết luận: 42 gói chất bột màu trắng gửi giám định có tổng khối lượng 160,56 gam là ma túy, loại Heroine.
Bản Cáo trạng số: 17/CT-VKS-P1, ngày 07/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, đã truy tố bị cáo P Mò Xô về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Pờ Mò X phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử phạt bị cáo Pờ Mò X 20 năm tù. Về vật chứng của vụ án, đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy 140,79 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 chiếc túi vải thổ cẩm dân tộc nhiều màu sắc đã qua sử dụng cũ. Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách Nhà nước gồm: Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel 4G LTE màu hồng đã qua sử dụng, không kiểm tra dữ liệu bên trong điện thoại; một chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave rsx màu đỏ đen, gắn BKS: 25M1-168.14, xe cũ đã qua sử dụng. Về hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị xem xét miễn cho bị cáo.
Người bào chữa cho các bị cáo trình bày luận cứ bào chữa, phân tích nguyên nhân, hoàn cảnh gia đình, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xem xét giảm nhẹ ở mức thấp nhất của khung hình phạt, miễn án phí hình sự sơ thẩm và không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị xử lý theo quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo không bổ sung ý kiến, không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên; bị cáo nhất trí với đề nghị của người bào chữa và không bổ sung gì thêm.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội, lời khai phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 11/11/2024, tại khu vực Km 231 + 700, Quốc lộ D, thuộc địa phận bản P, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu. Pờ Mò X đang thực hiện hành vi bán trái phép 160,56 gam Heroine cho một người đàn ông tên C với giá 58.800.000 đồng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng toàn bộ vật chứng. Vì vậy, cáo trạng và quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước ta đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng tới trật tự, an toàn xã hội của địa phương và đây còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc mua bán ma túy là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên toà ngày hôm nay là cần thiết, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cần xem xét, quyết định mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
[3] Xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[3.2] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên toà công khai ngày hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bản thân là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Ngoài ra tại phiên tòa bị cáo thừa nhận quá trình điều tra, truy tố, lấy lời khai, viết các bản tự khai, bị cáo tự nguyện khai, không bị bức cung, dùng nhục hình. Lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có căn cứ khẳng định trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Số Heroine còn lại sau giám định 140,79 gam; một chiếc túi vải thổ cẩm dân tộc nhiều màu sắc đã qua sử dụng cũ. Là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với các vật chứng gồm: Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel 4G LTE màu hồng đã qua sử dụng; một chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave rsx màu đỏ đen, gắn BKS: 25M1-168.14. Là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tuyên tịch thu, hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước.
[6] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn thuộc hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử, xem xét quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, xem xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét, áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để trừng phạt và làm gương cho những người khác đang có ý định phạm tội. Đồng thời đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe, phòng ngừa tội phạm chung, giữ gìn kỷ cương pháp luật.
[8] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q và ý kiến của bị cáo tại phiên tòa. Hội đồng xét xử, xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Liên quan trong vụ án:
- Đối với người đàn ông dân tộc Mông, khoảng hơn 20 tuổi tại xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu bán cho bị cáo X 160,56 gam Heroine, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch. Do vậy, không có căn cứ để điều tra xử lý.
- Đối với người đàn ông tên C là người đặt vấn đề mua Heroine. Kết quả điều tra xác định, Do X không biết nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
- Đối với chủ thuê bao số điện thoại 0924.343.xxx (theo X khai là số điện thoại của C). Kết quả điều tra, xác định đứng tên số thuê bao trên là chị Giàng Thị D, sinh năm 1985, trú tại xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu, nhưng chị D không biết mình bị xử dụng thông tin cá nhân để đăng ký số thuê bao trên, chị không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[10] Kiến nghị: Đề nghị cơ quan điều tra, tiếp tục xác minh, làm rõ đối với những vấn đề liên quan trong vụ án, khi có đủ căn cứ sẽ xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Các Điều 106; Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Pờ Mò X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo P Mò Xô 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/11/2024.
- Về xử lý vật chứng:
Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 140,79 gam Heroine còn lại sau giám định; một chiếc túi vải thổ cẩm dân tộc nhiều màu sắc đã qua sử dụng cũ.
Tuyên tịch thu, hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước gồm: Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel 4G LTE màu hồng đã qua sử dụng, số IMEI 1: 867327062386288, số IMEI 2: 867327062386296; một chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave rsx màu đỏ đen, gắn BKS: 25M1-168.14; Số máy: JA52E-052894; Số khung: RLHJA3856PY204221, xe cũ đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như mô tả chi tiết trong biêngiao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu được lập vào hồi 10 giờ 05 phút, ngày 14 tháng 3 năm 2025).
- Miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Án xử công khai, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án lên Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vàng Xuân Hiệp |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án kháng cáo, ngày 22/9/2025 Tòa phúc thẩm TAND tối cao ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm và bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
