TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 27/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Huyền và ông Hà Thanh Oai.
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 27/6/2025 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 10/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS, ngày 10/6/2025 đối với bị cáo:
BÀN TIẾN V (Tên gọi khác: Không); Ngày, tháng, năm sinh: 06 tháng 8 năm 2001, tại tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Con ông: Bàn Văn N - Sinh năm 1976 và bà Bàn Thị N1 - Sinh năm 1978; Vợ: Bàn Thị Kim L, sinh năm 2005. Con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 04/3/2025, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B khởi tố, điều tra về tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Ngày 18/3/2025, Chủ tịch UBND tỉnh B xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp số tiền 315.000.000đ (Ba trăm, mười năm triệu đồng) về hành vi giết chết 01 (một) cá thể Gà lôi trắng (Động vật rừng nguy cấp quý hiếm nhóm IB) theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 419/QĐ-XPHC. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/3/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bàn Thị N1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 30 phút ngày 05/01/2025, Công an xã H, huyện B nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có tiếng súng nổ ở khu vực đồi thuộc thôn K, xã H, huyện B. Công an xã H đã cử tổ công tác tiến hành xác minh nguồn tin và khi đến khu vực trên thì tổ công tác nghe thấy 02 (hai) tiếng súng nổ nên tổ công tác đã tiến hành truy tìm đối tượng nổ súng. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác phát hiện, lập biên bản đối với Bàn Tiến V, sinh năm 2001 trú tại thôn B, xã T, huyện N đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1-358.44 theo hướng xã H, huyện B đi xã T, huyện N và tiến hành tạm giữ của Bàn Tiến V: 01 (một) khẩu súng tự chế dài 128 cm; 01 (một) túi vải bên trong có chứa 04 (bốn) viên đạn, 03 (ba) vỏ đạn, 01 (một) con gà lôi đã chết, 01 (một) đèn pin có dây đeo và 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97B1 - 358.44. Ngoài ra qua làm việc V khai nhận bản thân sử dụng khẩu súng tự chế trên để đi săn và đã bắn chết được con gà lôi nêu trên vào ngày 05/01/2025. Sau khi xác định địa giới hành chính nơi xảy ra sự việc trên thuộc địa phận xã T, huyện N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển vụ việc trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành trưng cầu giám định đối với số tang vật thu giữ của Bàn Tiến V xác định được như sau:
Tại bản Kết luận giám định hình thái động vật số 151/STTNSV ngày 07/02/2025 của V1 thuộc V2, kết luận: “01 (một) cá thể động vật đã chết đựng trong hộp xốp là loài Gà lôi trắng có tên khoa học là Lophura N2, thuộc lớp chim (A), Bộ G (G1), họ trĩ (Phasianidae). Gà lôi trắng hiện được ghi nhận trong phụ lục I – Nhóm IB, Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của chính phủ; Sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/012019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES)”.
Tại bản Kết luận giám định số 915/KL-KTHS ngày 17/02/2025 của V3 - Bộ C, kết luận: “01 (một) khẩu súng gửi giám định là súng bắn đạn ghém, thuộc vũ khí quân dụng, hiện tại còn sử dụng được. Không đủ cơ sở xác định nước sản xuất; 04 (bốn) viên đạn và 03 (ba) vỏ đạn gửi giám định là đạn và vỏ đạn của loại đạn ghém cỡ 32. Loại đạn ghém cỡ 32 sử dụng lắp, bắn được cho khẩu súng bắn đán ghém nêu trên. 04 (bốn) viên đạn thuộc vũ khí quân dụng. 03 (ba) vỏ đạn không thuộc danh mục vũ khí”. BL: 71-72
Quá trình điều tra xác định được như sau: Khoảng tháng 12 năm 2024, trong quá trình dọn dẹp gác bếp nhà ở của mình (Vững sinh sống cùng nhà với bố mẹ đẻ) thì V phát hiện trên gác bếp có 01 (một) khẩu súng tự chế cùng với 07 (bảy) viên đạn và một chút thuốc súng, hạt nổ (viên chì). Sau đó V đã mang khẩu súng ra lắp đạn và bắn thử 04 (bốn) phát đạn thì tất cả đều nổ và sử dụng được nên V nhặt lại 04 (bốn) vỏ đạn mang về rồi tự chế tạo lại đạn từ 04 (bốn) vỏ đạn và số thuốc súng, hạt nổ còn lại nêu trên bằng cách cho thuốc súng, viên chì vào vỏ đạn rồi dùng giấy để bịt đầu đạn lại và dùng keo nến gia cố lại. Khi chế tạo xong đạn Vững cất khẩu súng và số đạn lại vị trí ban đầu và có ý định sử dụng súng để đi săn bắn.
Đến Khoảng 16 giờ ngày 05/01/2025, V đã lấy khẩu súng, đạn rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1 - 358.44 đi từ nhà đi theo đường mòn lên đồi thuộc thôn N, xã T, huyện N để săn bắn động vật rừng. Khi lên đến khu vực đồi thì V để xe ở bờ đường rồi đi bộ lên đồi và phát hiện thấy 01 (một) con gà lôi cách vị trí của Vững khoảng 08m, nên V đã lắp đạn vào súng và bắn 01 (một) phát đạn làm chết con gà rồi nhặt lấy để vào trong túi vải mang theo. Đồng thời V cũng lấy vỏ đạn để vào túi vải và lắp 01 (một) viên đạn mới vào súng. Sau đó V tiếp tục đi săn và phát hiện 01 (một) con vật giống sóc ở trên cây nên đã dùng súng bắn 02 (hai) phát nhưng không trúng nên V nhặt lấy vỏ đạn cho vào túi vải để quay lại lấy xe đi về nhà. Sau đó khi đang trên đường đi về nhà thì Công an xã H phát hiện lập biên bản và thu giữ toàn bộ tang vật.
Về nguồn gốc khẩu súng, đạn, thuốc súng khi phát hiện thấy trên gác bếp thì V không biết rõ của ai. Đến khi sự việc bị cơ quan Công an phát hiện thì Vững được mẹ đẻ của mình là bà Bàn Thị N1 nói cho biết khẩu súng, đạn là của bố dượng mẹ V tên là P hoặc P1 (Không rõ họ tên đầy đủ, năm sinh) để lại từ trước đó, không rõ để đâu và sau đó ông P đã đi vào miền nam khoảng năm 1986 và sau đó đã chết (Không rõ thời gian, địa điểm ở đâu). Việc V phát hiện ra khẩu súng, đạn và sau đó bắn thử rồi chế tạo lại đạn rồi dùng đi săn bắn vào ngày 05/01/2025 thì do một mình V thực hiện và không có ai biết hay tham gia cùng, kể cả người thân trong gia đình.
Tại Bản Cáo trạng số 31/CT-VKS-P1 ngày 09/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Bàn Tiến V về tội: “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Điều 304 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào chế tạo, tàng trữ...sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng, đề nghị HĐXX: Tuyên bị cáo Bàn Tiến V phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng điểm khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Tiến V từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi; Phạt bổ sung không.
Vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo pháp luật.
Án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễm án phí, nên miễm án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng tháng 12 năm 2024 bị cáo Bàn Tiến V trong quá trình dọn dẹp gác bếp nhà ở của mình thì V thấy trên gác bếp có 01 (một) khẩu súng tự chế cùng với 07 (bảy) viên đạn và một chút thuốc súng, hạt nổ (viên chì). Sau đó V đã mang khẩu súng ra lắp đạn và bắn thử 04 (bốn) phát đạn thì tất cả đều nổ và sử dụng được nên V nhặt lại 04 (bốn) vỏ đạn mang về rồi tự chế tạo lại đạn từ 04 (bốn) vỏ đạn và số thuốc súng, hạt nổ còn lại bằng cách cho thuốc súng, viên chì vào vỏ đạn rồi dùng giấy để bịt đầu đạn lại và dùng keo nến gia cố lại. Đến ngày 05/01/2025, V mang theo khẩu súng và số đạn trên lên khu vực đồi thuộc thôn N, xã T, huyện N săn bắn được 01 (một) cá thể gà lôi trắng.
Tại bản Kết luận giám định số 915/KL-KTHS ngày 17/02/2025 của V3 - Bộ C, kết luận: “01 (một) khẩu súng gửi giám định là súng bắn đạn ghém, thuộc vũ khí quân dụng, hiện tại còn sử dụng được. Không đủ cơ sở xác định nước sản xuất; 04 (bốn) viên đạn và 03 (ba) vỏ đạn gửi giám định là đạn và vỏ đạn của loại đạn ghém cỡ 32. Loại đạn ghém cỡ 32 sử dụng lắp, bắn được cho khẩu súng bắn đán ghém nêu trên. 04 (bốn) viên đạn thuộc vũ khí quân dụng. 03 (ba) vỏ đạn không thuộc danh mục vũ khí”.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp vật chứng và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ của vụ án và bị cáo thực hiện hành vi khi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo Bàn Tiến V là vi phạm quy định của pháp luật, đã xâm phạm vào các quy định của nhà nước về quản lý các loại vũ khí quân dụng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương.
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Bị cáo Bàn Tiến V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Ngoài ra bị cáo có ông nội là ông Bàn Triều P2 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất - đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bàn Tiến V không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo, sống ở vùng đặc biệt khó khăn, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97B1 - 358.44 và Giấy đăng ký xe mô tô tô biển kiểm soát 97B1 - 358.44. Qua điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Bàn Thị N1, sinh năm 1978 trú tại thôn B, xã T, huyện N (Mẹ đẻ bị can Bàn Tiến V) và bà N1 có đơn xin trả lại tài sản. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và không cần tiếp tục tạm giữ nên ngày 24/3/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Bàn Thị N1 theo quy định.
Đối với 01 (một) cá thể gà lôi trắng đã chết (Con gà mà bị can dùng súng săn bắn được). Xét thấy đây là vi phạm hành chính, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và không cần tiếp tục tạm giữ nên ngày 05/3/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành bàn giao cho Chi cục kiểm lâm tỉnh B xử lý theo thẩm quyền.
Đối với 04 (bốn) viên đạn thu giữ được gửi giám định đã được V4 Bộ C sử dụng hết trong quá trình giám định (bắn thực nghiệm, tiêu hao hết trong quá trình thực nghiệm) nên không hoàn trả lại Cơ quan điều tra.
Đối với số vật chứng còn lại gồm: 01 (một) khẩu súng dài 128cm, thuộc vũ khí quân dụng, không số ký hiệu; 03 (ba) vỏ đạn hình trụ tròn màu vàng bằng kim loại; 01 (một) túi vải có dây đeo, cũ đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc đèn pin có dây đeo, cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong 01 (một) thùng cát tông, tịch thu tiêu hủy.
[6] Trong vụ án còn có:
Đối với người bố dượng mẹ đẻ bị can Bàn Tiến V tên là P hoặc P1 (Không rõ họ tên đầy đủ, năm sinh) là người đã để lại khẩu súng, đạn, thuốc súng trên gác bếp nhà V trước đó và sau đó ông P đã đi vào miền nam khoảng năm 1986 và sau đó đã chết (Không rõ thời gian, địa điểm ở đâu). Qua điều tra bà N1 và bị can không cung cấp được họ tên, địa chỉ, nhân thân, lý lịch của người này nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
Đối với ông Bàn Văn N và bà Bàn Thị N1 (Là bố mẹ đẻ bị can V); Chị Bàn Thị Kim L (Vợ bị can V) cùng trú tại thôn B, xã T, huyện N. Quá trình điều tra xác định ông N, bà N1 và chị L không biết và không được V nói hay biết việc V phát hiện ra khẩu súng, đạn, thuốc súng để trên gác bếp mà ông P để lại từ năm 1986, sau đó V đã lấy sử dụng và chế tạo đạn để dùng vào việc săn bắn động vật rừng vào ngày 05/01/2025 nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với hành vi bị can Bàn Tiến V sử dụng khẩu súng, đạn trên săn bắn được 01 (một) cá thể Gà lôi trắng (Động vật rừng nguy cấp quý hiếm nhóm IB) vào ngày 05/01/2025. Do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan An ninh điều tra đã chuyển hồ sơ cùng tang vật trên đến Chi cục kiểm lâm tỉnh B xử lý theo thẩm quyền và Chủ tịch UBND tỉnh B quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp số tiền 315.000.000đ (Ba trăm, mười năm triệu đồng) theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 419/QĐ-XPHC ngày 18/3/2025.
[8] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễm án phí, do vậy bị cáo được miễn án phí án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bàn Tiến V phạm tội: “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”
Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Tiến V 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) khẩu súng dài 128cm, thuộc vũ khí quân dụng, không số ký hiệu; 03 (ba) vỏ đạn hình trụ tròn màu vàng bằng kim loại; 01 (một) túi vải có dây đeo, cũ đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc đèn pin có dây đeo, cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong 01 (một) thùng cát tông.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản bàn giao giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bàn Tiến V được miễn 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Đình Hưng |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bàn Tiến V phạm tội: “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”
