TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HS - ST
Ngày 27 - 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Toản và ông Thân Văn Nhàn.
Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 10/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1998; Giới tính: Nữ.
Tên gọi khác: không.
Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12.
Con ông: Nguyễn Văn T.
Con bà: Nguyễn Thị T1.
Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Chồng: Trần Văn K, sinh năm 1996 (đã ly hôn).
Con: Trần Gia L, sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 31/10/2024 đến ngày 08/11/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện tại ngoại. (có mặt tại phiên toà)
- Bị hại: Công ty T3.
Địa chỉ trụ sở: Tầng G, 8 và 10 tòa nhà P, số B N, phường T, TP T, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Bùi Đức V sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn T, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị O sinh năm 1996. Nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
1. Anh Dương Văn H1 sinh năm 1996. Nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
2. Chị Giáp Thị L1 sinh năm 2002. Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị H, sinh năm 1998, trú tại thôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang là cộng tác viên cho Công ty T3 ở Việt Nam. Khoảng tháng 9 năm 2023, H quen biết với anh Dương Văn H1, sinh năm 1996, trú tại tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên anh Dương Văn H1 đã liên hệ với H để làm hồ sơ vay tín chấp thì H đồng ý. Sáng ngày 20/9/2023, H đến nhà anh H1 tại tổ dân phố V, phường V, thị xã V để làm hồ sơ vay tiền bên Công ty T3 cho anh H1 và chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1996 (vợ anh H1) nhưng hồ sơ của anh chị đều bị từ chối nên không vay được tiền. Khoảng 14 giờ cùng ngày, anh H1 đi cùng chị O đến quán Q ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V để gặp H và chị Giáp Thị L1, sinh năm 2002, trú tại thôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang là công tác viên bên Công ty T3 để làm hồ sơ vay tiền bên Công ty T3 ở Việt Nam. Tại đây, chị L1 làm hồ sơ vay tiền cho chị O nhưng không thành công do không đạt yêu cầu. Lúc này, H đã nảy sinh ý định lấy thông tin của chị O để đăng ký vay tiền của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 (viết tắt là Công ty T3), địa chỉ ở tầng G,8 và 10 tòa nhà P, số B N, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh sau đó chiếm đoạt. H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của H truy cập vào đường link vay tiền của Công ty T3 sau đó tự nhập các thông tin cá nhân của chị O gồm: số điện thoại 0363.112.xxx, số căn cước công dân, hình ảnh chân dung để đăng ký tài khoản và hồ sơ vay tiền với hạn mức 8.000.000 đồng trên ứng dụng “Home Credit”. Sau khi nhập các thông tin nêu trên, hệ thống ứng dụng gửi mã “OTP” về số điện thoại chị O. H lấy lý do đang thao tác đăng ký hồ sơ vay tiền để mượn điện thoại của chị O lấy mã “OTP” sau đó nhập vào ứng dụng đăng ký mở tài khoản mở trên điện thoại của H. Sau khi đã nhập được mã “OTP”, H xóa tin nhắn rồi trả lại điện thoại cho chị O. Sau đó, H nói dối chị O và anh H1 là hồ sơ vay tiền không đủ điều kiện nên không được duyệt. Khoảng 18 giờ cùng ngày, hệ thống của Công ty T3 gửi tin nhắn thông báo H đã đăng ký mở tài khoản vay tiền mua hàng online thành công và giải ngân vào tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần N1 số 0011003100399 có tên “Công ty cổ phần T4” theo yêu cầu của H. H sử dụng tài khoản trên để vào sàn thương mại điện tử “Meta.vn” và đặt mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K trị giá 3.068.000 đồng và 02 chiếc bàn học chống gù nhãn hiệu Kachi MK296 trị giá 4.736.000 đồng rồi để tên người nhận hàng tự nghĩ ra là Nguyễn Thị H2, nhưng dùng số điện thoại nhận hàng là 0852.981.xxx, 0927.485.611 của H đang dùng, địa chỉ nhận hàng tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 05 ngày sau, H nhận được hàng đã đặt mua và không phải thanh toán do Công ty T3 đã sử dụng khoản vay H lập trước đó đứng tên chị O để thanh toán. Sau đó, Công ty cổ phần T4 là đơn vị trung gian thanh toán giữa Công ty T3 và Công ty cổ phần M1 đã thanh toán thành công 02 đơn hàng trên. Do không có nhu cầu sử dụng, H đã bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K cho người phụ nữ chỉ biết tên T2 ở huyện L được 2.000.000 đồng và bán 01 chiếc bàn học cho người đàn ông chỉ biết tên N ở huyện L được 2.000.000 đồng, 01 chiếc bàn học còn lại H để tại nhà ở thôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Số tiền 4.000.000 đồng có được từ việc bán 02 sản phẩm trên, H đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Do không thấy tài khoản mang tên chị Nguyễn Thị O thực hiện việc thanh toán hợp đồng tín dụng vay tiền mua hàng trên sàn thương mại điện tử nên phía Công ty T3 đã liên hệ với chị Nguyễn Thị O thì chị O cho biết không biết khoản vay trên hợp đồng với Công ty T3. Ngày 08/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V đã tiếp nhận nguồn tin do đại diện theo ủy quyền của Công ty T3 trình báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã V.
Ngày 12/7/2024, Cơ quan điều tra có công văn gửi Công ty T3 đề nghị cung cấp số tiền mà Công ty đã giải ngân, cách thức đăng nhập và chuyển số tiền đã giải ngân. Tại công văn số 931 ngày 10/9/2024, Công ty H3 cung cấp số tiền theo hợp đồng tín dụng mang tên Nguyễn Thị O đã được Công ty T3 giải ngân vào số tài khoản 0011003100399 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N1 mang tên chủ tài khoản Công ty cổ phần T4; khách hàng sau khi chọn hàng hóa, dịch vụ trên Website của đối tác và chọn phương thức thanh toán Home PayLater thì chọn xác thực số điện thoại và ảnh chân dung và đăng nhập vào tài khoản tín dụng rồi ký hợp đồng tín dụng. Ngày 20/9/2024 tài khoản Nguyễn Thị O đã thực hiện giao dịch khoản tín dụng 1 là 4.736.000 đồng và khoản tín dụng 2 là 3.068.000 đồng”.
Ngày 31/10/2024, Nguyễn Thị H đến Công an thị xã V đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội đồng thời tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, loại 256 GB. Ngày 17/11/2024, Nguyễn Thị H tự nguyện giao nộp 01 bộ bàn ghế học sinh nhãn hiệu Kachi (MK296) màu xanh trắng cho Cơ quan điều tra Công an thị xã V.
Ngày 31/10/2024, Cơ quan điều tra cho Nguyễn Thị H nhận dạng đối với chị Nguyễn Thị O. Kết quả, H nhận ra chị O là đã nhờ người làm hồ sơ vay tiền. Sau đó H đã lấy thông tin cá nhân của chị O để mở tài khoản vay tín dụng sau đó chiếm đoạt tiền của Công ty T3 vào 20/9/2023.
Trong các ngày 31/10/2024, 02/11/2024, Cơ quan điều tra cho anh Dương Văn H1, chị Nguyễn Thị O nhận dạng đối với Nguyễn Thị H. Kết quả, anh H1, chị O nhận ra H là người đã gặp và làm hồ sơ vay tiền cho chị Nguyễn Thị O vào ngày 20/9/2023.
Cùng ngày 31/10/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Thị H thực nghiệm thực hiện lại các bước đăng nhập vào trang Web của Công ty T3 và thực hiện các thao tác tạo tài khoản vay tiền online. Kết quả, H thực hiện được các thao tác tạo tài khoản vay tiền online cho chị Nguyễn Thị O như nội dung vụ việc.
Ngày 04/11/2024, Công ty Cổ phần T4 cung cấp thông tin giao dịch thể hiện: ngày 20/9/2023, OnePay ghi nhận 02 giao dịch thành công từ số điện thoại 0363.112.xxx của khách hàng Nguyễn Thị O. OnePay đã thực hiện chuyển thanh toán giao dịch của mã đơn hàng 124485828 với số tiền 3.068.000 đồng và giao dịch có mã đơn hàng 124458504 với số tiền 4.736.000 đồng từ số tài khoản 0011003100399 mở tại Ngân hàng V1 của OnePay đến số tài khoản 0451001747762 mở tại Ngân hàng V1 cho M.
Ngày 06/11/2024 Công ty cổ phần M1 cung cấp 02 đơn đặt hàng của khách hàng Nguyễn Thị H2 với số điện thoại nhận hàng 0852.981.xxx- 0927.485.611, địa chỉ nhận hàng tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, thanh toán online bằng thẻ Homecredit qua cổng thanh toán OnePay vào ngày 20/9/2023 đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17k trị giá 3.068.000 đồng và 02 chiếc bàn học chống gù Kachi MK296 trị giá 4.736.000 đồng.
Đối với chị Nguyễn Thị L2 là người ở quán Q cùng Nguyễn Thị H làm thủ tục vay tiền qua Công ty T3 cho chị Nguyễn Thị O nhưng không được duyệt, chị L2 không biết việc H sử dụng thông tin cá nhân của chị O để đăng ký khoản vay bên Công ty T3 và chiếm đoạt tiền vay để mua hàng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax của H thực hiện để đăng ký hợp đồng vay vốn mang thông tin chị Nguyễn Thị O rồi chiếm đoạt tiền của Công ty T3, H khai bán cho người không quen biết được 7.000.000 đồng và điện thoại, bàn học H dùng tiền chiếm đoạt được để mua rồi bán cho người không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về vật chứng: đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax là tài sản của bị cáo, không sử dụng phạm tội; 01 bộ bàn ghế học sinh đã thu giữ là tài sản bị cáo dùng tiền chiếm đoạt được để mua. Cơ quan điều tra đã nhập kho các tài sản, đồ vật trên để xử lý theo pháp luật.
Trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị H đã tự nguyện bồi thường lại cho Công ty T3 số tiền 8.891.420 đồng; hiện tại đại diện theo uỷ quyền của Công ty T3 không yêu cầu bồi thường dân sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Nguyễn Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 24/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H từ 07 tháng đến 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp lại số tiền 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax; 01 chiếc bàn học chống gù nhãn hiệu Kachi MK296 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Thị H không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị H đã tự nguyện bồi thường lại cho Công ty T3 số tiền 8.891.420 đồng; hiện tại đại diện theo uỷ quyền của Công ty T3 không yêu cầu bồi thường dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng điều tra viên, kiểm sát viên, của cơ quan điều tra Công an thị xã V, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người vắng mặt.
[3] Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo, của bị hại, của người liên quan trong quá trình điều tra. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 14 giờ ngày 20/9/2023, tại quán Q1 tại tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Thị H đã dùng thủ đoạn gian dối bằng việc lấy thông tin, số điện thoại, hình ảnh cá nhân của chị Nguyễn Thị O để tạo hồ sơ vay vốn trên ứng dụng của Công ty TNHH Một thành viên T3 để mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K và 02 chiếc bàn học chống gù nhãn hiệu Kachi MK296 bằng hình thức trả sau với số tiền 7.804.000 đồng
Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc tội ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã đầu thú; bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; được đại diện theo uỷ quyền của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện bằng việc bị cáo chưa phạm tội lần nào, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội mà xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Thị H không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Về vật chứng:
Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax của H thực hiện để đăng ký hợp đồng vay vốn mang thông tin chị Nguyễn Thị O rồi chiếm đoạt tiền của Công ty T3, H khai bán cho người không quen biết được 7.000.000 đồng cần truy thu số tiền này.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax là tài sản của bị cáo, không sử dụng phạm tội; 01 bộ bàn ghế học sinh đã thu giữ là tài sản bị cáo dùng tiền chiếm đoạt được để mua nhưng bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị H đã tự nguyện bồi thường lại cho Công ty T3 số tiền 8.891.420 đồng; hiện tại đại diện theo uỷ quyền của Công ty T3 không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
[9]. Đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 08 (tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp lại số tiền 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax; 01 chiếc bàn học chống gù nhãn hiệu Kachi MK296 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Trường |
Bản án số 32/2025/HS - ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 32/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hương - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
