Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày: 27/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thu Ba

Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Xuân Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh ngày 16/5/2001 tại H, Kiên Giang. ĐKTT: Ấp N, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Không có chỗ ở cố định; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hoá: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1960; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

- Người bị hại:

Ông Đinh Quốc P, sinh năm 1992 (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1997 (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1975 (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ giữa tháng 03/2023 đến ngày 25/4/2023, trên địa bàn xã H và phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Văn N đã 02 lần lấy trộm 02 xe mô tô của người khác, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào giữa tháng 3/2023 (không nhớ rõ ngày), Nguyễn Văn N đang bán nước trước phòng trọ tại ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thì Đ (chưa rõ nhân thân) đến chơi. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, N nghỉ bán thì Đ rủ N cùng đi tìm tài sản lấy trộm thì N đồng ý. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng (không rõ biển kiểm soát) của Đ chở N chạy đến xã H, thành phố P tìm tài sản lấy trộm. Khi Đ chạy đến đoạn đường thuộc ấp B, xã H thì nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner, màu đen biển kiểm soát 68D1 - 539.96 của anh Nguyễn Văn T1 đang đậu trước nhà không có người trông coi. Thấy vậy, Đ dừng xe lại, N đứng ngoài canh đường, còn Đ lén lút đi vào lấy trộm xe mô tô của anh T1 rồi cả hai chạy xe về cất giấu tại nhà trọ của N. Sau đó, Đ tháo biển kiểm soát 68D1 - 539.96 trên xe vứt bỏ và thay vào biển kiểm soát 68H1-512.18, rồi sơn lại xe từ màu đen sang màu bạc cho N sử dụng. Đến ngày 27/4/2023, do không có tiền tiêu xài N đã mang xe trộm được của anh T1 đi đến vựa phế liệu Nguyễn G tại ấp S, xã D do bà Nguyễn Thị S làm chủ, N đi vào gặp bà S cầm xe mô tô với số tiền 900.000 đồng thì bà S đồng ý (khi cầm xe bà S không biết tài sản do trộm cắp mà có), số tiền trên N đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 01/5/2023, bà S biết được xe mô tô cầm cố của N là do trộm cắp mà có nên đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Lần thứ hai: Vào khoảng 13 giờ ngày 25/4/2023, do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Văn N rũ Trần Thanh L, (thời điểm phạm tội L được 13 tuổi 9 tháng 21 ngày), đi tìm tài sản lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài thì L đồng ý. N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner, gắn biển kiểm soát 68H1 - 512.18 xe lấy trộm của anh T1 trước đó chở L đi đến phường A tìm tài sản trộm cắp. Khi đi ngang nhà hàng P1 thuộc khu phố F, phường A, thành phố P thì N và L phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu vàng đen, biển kiểm soát: 68P1 - 744.55 của anh Đinh Quốc P đang đậu sau nhà hàng không có người trông coi. Thấy vậy, N

đậu xe mô tô gần đó đứng canh đường, còn L đi đến lấy trộm xe mô tô của anh P; sau đó, N điều khiển xe mô tô đẩy L cùng xe mô tô trộm được về phòng trọ của N tại ấp S, xã D cất giấu. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, N lên mạng xã hội Facebook biết được anh P đăng bài viết về việc bị mất xe và biết Công an đang truy tìm nên N điều khiển xe trộm được bỏ lại tại một bãi đất trống thuộc ấp S, xã D rồi đi về. Đến ngày 28/8/2023, Nguyễn Văn N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố, sau đó bị can bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 30/9/2024, N bị bắt theo quyết định truy nã và bị tạm giam để điều tra.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu vàng đen, biển kiểm soát: 68P1 – 042.13, số khung: RLCE5P710BY048313, số máy: 5P71048314, đã qua sử dụng (Đã trao trả cho chủ sở hữu).
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner, màu bạc, không có biển kiểm soát, số khung: RLHKC2602GY394177, số máy: KC26E1239164, xe đã qua sử dụng (Đã trao trả cho chủ sở hữu).
  • 01 Biển kiểm soát xe mô tô số 68P1-042.13 đã qua sử dụng.
  • Đối với biển số xe mô tô 68P1 - 744.55; biển số xe mô tô 68H1 - 512.18 và biển số xe mô tô 68D1 - 539.96, sau khi trộm cắp xe bị can tháo ra vứt bỏ, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng chưa thu hồi được.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận:

  • Giá trị 01 xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu vàng đen, biển kiểm soát 68P1-744.55, số máy: 5P71048314, số khung: RLCE5P710BY048313, xe đã qua sử dụng. Tại thời điểm định giá tài sản tháng 4/2023, trị giá 34.000.000 đồng.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 91/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận:

  • Giá trị 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại WINNER, màu đen, biển kiểm soát 68D1-539.96, số máy: KC26E1239164, số khung: RLJKC2602GY394177, xe mua mới tháng 01/2019 và sử dụng đến nay. Tại thời điểm định giá tài sản tháng 03/2023, trị giá 19.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Văn N chiếm đoạt là 53.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 35/CT-VKSPQ ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang truy tố bị Nguyễn Văn N về tội: Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan

điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt cho bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Vắn T2 7.000.000 đồng và bị hại anh Đinh Quốc P 1.000.000 đồng, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Bị cáo đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S số tiền 900.000 đồng, bà S không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng theo quy định tại Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi HĐXX vào nghị án: Bị cáo ăn năn hối cải mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá chứng cứ:

a) Bị cáo thừa nhận: Trong khoảng thời gian từ tháng 03/2023 đến ngày 25/4/2023, tại địa bàn xã H và phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, do không có tiền tiêu xài nên bị cáo đã 02 lần lấy trộm 02 xe mô tô của anh Nguyễn Văn T1 và anh Đinh Quốc P nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

b) Tại bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố P kết luận xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu vàng đen, biển kiểm soát 68P1-744.55 đã qua sử dụng. Tại thời điểm định giá tài sản tháng 4/2023, trị giá 34.000.000 đồng; Xe mô tô, nhãn hiệu

HONDA, loại WINNER, màu đen, biển kiểm soát 68D1-539.96 mua mới tháng 01/2019 và sử dụng đến nay. Tại thời điểm định giá tài sản tháng 03/2023, trị giá 19.000.000 đồng.

c) Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu vàng đen, biển kiểm soát: 68P1 - 042.13; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner, màu bạc, không có biển kiểm soát và 01 Biển kiểm soát xe mô tô số 68P1-042.13 đã qua sử dụng.

d) Qua lời khai của bị hại Đinh Quốc P, Nguyễn Văn T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S có đủ căn cứ xác định bị cáo lén lút lấy trộm xe môtô của các bị hại nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Từ các chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử nhận định lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của bị hại bằng hình thức lén lút lấy trộm tài sản của bị hại. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 53.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả xong. Đồng thời, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là thanh niên có đầy đủ sức khỏe nhưng do lười lao động, tham lam nên đã bất chấp pháp luật, lợi dụng sự mất cảnh giác của chủ sở hữu để lấy trộm tài sản của họ nhằm phục vụ cho mục đích cá nhân. Sau khi bị khởi tố, bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ nên

HĐXX chấp nhận.

[6] Về yêu cầu của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị hại Đinh Quốc P, Nguyễn Văn T1 cho rằng đã nhận lại tài sản và bị cáo đã bồi thường chi phí sửa xe, làm lại biển kiểm soát xe. Đối với bà Nguyễn Thị S thì cho rằng bị cáo đã trả lại cho bà số tiền 900.000 đồng mà bị cáo cầm xe, nay không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên miễn xét.

[7] Về xử lý vậy chứng: Vật chứng còn lại gồm 01 Biển kiểm soát xe mô tô số 68P1-042.13 đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ do bị cáo sử dụng khi phạm tội.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với đối tượng tên Đ chưa rõ nhân thân cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với bị cáo, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.

Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị S cầm cố xe mô tô của bị cáo, không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không xử lý.

Đối với hành vi của Trần Thanh L (sinh ngày 04/7/2009) tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chỉ 13 tuổi 09 tháng 21 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

  • - Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: Ngày 30/9/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu huỷ 01 biển kiểm soát xe mô tô số 68P1-042.13 đã qua sử dụng.
  • (Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 27/QĐ-VKSPQ ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang).

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc

hội.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự.

6. Về quyền kháng cáo:

Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND Tp. Phú Quốc;
  • - CQTHAHS Tp. Phú Quốc;
  • - THA Tp. Phú Quốc;
  • - CQCSĐT-CA Tp. Phú Quốc;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger